(trở về mục lục)

Kết nối Triết học - Nghệ thuật Phật giáo với công chúng trẻ

Nghệ sĩ–Tiến sĩ Bạch Tuyết

I. Giới thuyết:

Tôi vừa truy cập trên trang web www.myopera có thông tin “5 cách tự tử”. Thật khó lý giải khi cái chết lại trở thành như một thứ…dịch vụ cần được tư vấn, trong đó có đoạn giới thiệu “đây là 5 cách tự tử thông dụng nhất hiện nay”. Và chỉ cần một giây click chuột, quý vị cũng có thể thống kê những số vụ tự tử liên tục, dày đặc trong vài năm trở lại đây tại Việt Nam. Học yếu, bị gia đình la rầy: chết. Chớm yêu khi ở tuổi 12, bị gia đình cấm: chết. Thi vào đại học thiếu 2 điểm: chết. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì tự tử đã trở thành vấn đề đáng báo động ở châu Á với tỷ lệ: 19,3/100.000 người trong khi tỷ lệ toàn cầu là 14/100.000 người.

Những con số không bình thường, những tỷ lệ phá vỡ quy luật, lẽ nào những người lớn như chúng ta không giật mình và quên đi sự thảng thốt?

Có nhiều nguyên nhận được viện dẫn, không ít giải pháp được kiến nghị. Và rõ ràng, không thể chối cãi khi từ môi trường sống, giáo dục cho đến những giá trị bản thân, giá trị sống đang ngày một bị hủy hoại khiến có một lớp trẻ - khi không thể có đủ một trữ lượng tinh thần tự tại, tự tin, họ đã tự hủy chính mình.

Tôi đau đớn và quay quắt về suy nghĩ này!

Cũng xuất phát từ mục tiêu trên, ở một trạng thái khác, tôi muốn truyền lửa đến những người cùng tôi, sau tôi những giá trị sống (Living Value) mà tôi nhận thức từ triết học Phật giáo. Ngọn lửa ấy được tôi nhen nhóm và đốt sáng thông qua con đường nghệ thuật sân khấu dân tộc. Nghĩa là tôi dùng nghệ thuật dân tộc để truyền thị một triết học Phật giáo dân tộc và ngược lại. Trên lộ trình kép này, tôi càng nhận rõ “Lời Vàng” của Đức Phật

“Đạo vốn không nhan sắc
Mà ngày càng gấm hoa
Trong ba ngàn cõi ấy
Đâu chẳng phải là nhà”…

II. Mặt bằng chung

1. Tư tưởng và triết học Phật giáo đã thật sự là nguồn suối nhận thức cơ bản một cách trực tiếp lẫn gián tiếp cho đời sống sáng tạo – tinh thần của con người châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Chính vì lẽ này mà từ xưa đến nay, triết học Phật giáo, đúng hơn là những bài học của Phật truyền thị đã đi vào đời sống sáng tạo, văn chương, nghệ thuật bác học lẫn bình dân, thành văn lẫn truyền khẩu. Nếu nói, Phật giáo đã trở thành một quốc giáo của Việt Nam, không sai. Nếu nói, Phật giáo đã trở thành một nền tảng văn hóa của người dân Việt, hoàn toàn đúng bởi ở gốc độ cơ bản mà cũng dễ hiểu nhất, những giáo lý Phật căn nguyên cũng chính là nền tảng văn hóa – thuần phong của người dân Việt.

Đây là một ưu thế, đúng ra là một lợi thế trên hành trình hoằng pháp của giới Tăng Ni. Và với đối tượng Phật tử trẻ, hay đối tượng thanh, thiếu niên, chúng ta đã có sẵn một tầng ngầm văn hóa Phật khá vững bền.

2. Rõ ràng, trong hầu hết những tác phẩm, công trình sáng tác, mang tính chất phục vụ nhu cầu giải trí (hoàn toàn mang yếu tố tích cực) đại bộ phận, Phật giáo hiện diện như một chuẩn mực thông qua các khái niệm đạo đức cơ bản: lòng hiếu thảo, trung nghĩa, hiền lành, sự thuận hòa, chung thủy. Những thái độ phản kháng cũng nhằm bảo vệ những giá trị muôn đời ấy.

Để chuyển tải những giá trị cốt lõi này, hẳn nhiên những bộ phim, vở tuồng, kịch hay những bài ca đều lấy cuộc đời hành đạo của Đức Thích Ca hay các kiếp tu hành của Quán Âm Bồ Tát… như những tích truyện đầy hấp dẫn mà biểu lộ đầy đủ những quy luật Nhân – Quả; Thiện – Ác…Chúng ta có thể kể tên như Nỗi oan Thị Kính, Quan Âm Diệu Thiện, Thích Ca hành đạo, Cuộc đời Đức Phật…cho đến việc xây dựng những hình tượng như Ông Phật, ông Bụt, Phật Bà nghìn mắt nghìn tay…Những công trình trên đã đóng góp một cách có hiệu quả lâu bền vào quá trình nhận thức, suy luận lẫn giáo dục nền cho bao thế hệ người dân Việt.

III. Triết học – nghệ thuật Phật giáo – “Password” (mật mã) đến với giới trẻ

1. Đối tượng:

Ngày nay, trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng đang tích cực báo động về sự xói mòn nền tảng đạo đức – xã hội trong một bộ phận công dân, đặc biệt là công dân trẻ đã cho thấy, những bài học giá trị từ tư tưởng Phật giáo – Văn hóa càng trở nên có ý nghĩa khi chúng đặt lại những bài học cơ bản nhất, những nguyên lý dạy làm người sơ khai nhất.

Tôi suy nghiệm về thực trạng này và có những cách lý giải riêng cho mình.

Quả thực, trong sự nghiệp của tôi, công chúng trẻ vốn luôn là động lực cho mọi sáng tạo. Có thể họ không đông và cũng không ồn ào, như biểu hiện của họ khi đến với loại hình tân nhạc nhưng họ bao giờ cũng đem đến cho tôi một sự háo hức bởi họ…mới: mới xem, mới nghe, mới cả trong cách tiếp nhận và phản tiếp nhận, trong tư duy và hình thức phản biện. Chính trong quá trình đón nhận thái độ tiếp nhận của họ, tôi được thách thức và thăng hoa.

Do vậy, qua quá trình tiếp cận, tiệm cận và xâm nhập để tìm hiểu triết học Phật giáo, cũng như hình thành con đường từ Phật giáo đến nghệ thuật dân tộc, đối tượng mà tôi hướng đến, không ai xa lạ chính là các bạn trẻ của tôi. Họ là đối tượng tác động và bị tác động; họ vừa là nguyên liệu lại vừa là thành phẩm trong một dây chuyền khai thác và thể nghiệm triết học Phật giáo của tôi.

2. Phương pháp:

- Với người trẻ, tôi không chọn cách kể chuyện, do đó tôi không nghĩ mình mang lại cho họ những bài học. Tôi chọn ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ này cho phép tôi lẫn các bạn trẻ công bằng trong nhìn nhận, phân tích, lý giải và ứng dụng vấn đề. Đối thoại bằng nghệ thuật, lấy sự hòa điệu giữa ca từ và giai điệu là phương tiện chuyển tải, do đó hiệu quả mang lại là Cảm để Hiểu; Hiểu và Cảm; Cảm – Hiểu và Hành như một chuỗi phát triển tất yếu.

Ví dụ: Trong tác phẩm Phật giáo và Dân tộc có đoạn (trích dẫn trang 49 “Người tốt luôn xét lỗi mình…dứt bài Duyên kỳ ngộ - Phân tích để nói rõ ý trên)

Trở lại một vấn đề: Tôi vẫn thành kính trước những buổi giảng pháp; ở đó ngoài những kiến thức được truyền thụ và lĩnh hội; ngoài những kiến giải gần như có tính chuẩn mực và cả một tâm thế mặc khải. Một thực tế: khi tôi đến tham dự nhiều buổi giảng, nhiều lúc giảng sư cứ giảng, người nghe cứ…la liệt nghe, nghe bằng động tác thành tâm hơn là bằng ý thức tỉnh. Sau đó, những người nghe, hình thành từng nhóm thảo luận theo cách của mình và họ sa đà vào tranh luận hơn là tự kiến giải tìm ra Chân Như cho chính mình.

Đến với những người trẻ và cuộc đối thoại của họ, bạn sẽ như đi trên xa lộ nhiều chiều chứ không một chiều. Họ có sự háo hức đến mức…háo thắng. Họ sẵn sàng chất vấn để kiểm chứng chính họ và chính bạn. Họ chưa kịp lý giải thì họ đã phán xét, v.v… Nhưng chính giữa xa lộ thông tin đa chiều như thế, những nguyên lý của triết học Phật giáo tỏa sáng bằng tính khoa học, tính biện chứng. Nói đúng hơn thì đó là password để bạn mở khóa và kết nối với nhiều chiều thông tin nghịch – thuận…

Năm 2002, tôi bắt tay chuyển thể sang Trường ca cải lương Kinh Pháp Cú và sau đó xuất bản DVD, sách. Năm 2004 tôi chuyển thể tác phẩm Phật giáo và dân tộc, Tình ca Quán Âm hay gọi là Kinh Kim Cương, và liên tục tôi chuyển thể các băng đĩa và sách đến tay công chúng, tôi cũng nhận những phản hồi. Đúng ra thì phải gọi đó là “tác phẩm nối dài” vì qua DVD, sách công chúng của tôi tiếp tục đối thoại và chất vấn về những vấn đề có tính lý luận, đúc kết với bản thân đời sống của tôi, của họ, của những vấn đề đang tồn tại, đang đảo lộn trong cuộc sống hôm nay. Chúng tôi đối thoại trên giảng đường, trong quán café, ngoài bãi biển, trên Yahoo Messenger, trên các comment của Blog 360 Yahoo, website…

Yếu tố tương tác là một yếu tố mang tính thời đại và chính nó làm cho cuộc đối thoại trực tuyến của tôi và công chúng trẻ của tôi sinh động và hiệu quả.

Phải thừa nhận, cơn lốc của đời sống thị trường đã phần nào thay đổi diện mạo xã hội lẫn con người Việt Nam ngày nay. Như ngay khi cánh cổng lớn mở ra, con người, một nửa được đón những luồng gió mới; một nửa lại chống trả với những luồng gió oi, gió độc. Những căn bệnh xã hội phát sinh và lây lan. Những kiểu, những “ mô hình” không hề được đón đợi đã xuất hiện như “Bế tắc co cụm” và một loạt hội chứng ra đời: sống thử, chán sống, đổ vỡ niềm tin và lý tưởng, mất cân bằng, vô cảm thực tại…

Bên cạnh những giá trị mới được khẳng định bởi một lớp trẻ mới, năng động, cá tính và thành đạt nhanh chóng đã hiển nhiên kéo theo một hệ quả: mất sự tự tại, cân bằng cùng hội chứng…sợ hãi dây chuyền, như sợ mất việc, mất cơ hội, mất thời gian…và dẫn đến mất cả sự thưởng thức mình, thưởng thức cuộc sống.

Chính lúc này, tự tính của Bát Nhã như là một phương pháp trực quan, trực chỉ vào bản thể, truy tìm và phát hiện, trực diện và xóa sạch bản ngã với mọi kiến chấp của con người, đưa nó trở về đúng với cái bản lai diện mục, cân bằng với chính nó.

Người trẻ chấp nhận với con đường này. Họ thích đối diện, thậm chí đối đầu. Họ hỏi tôi “Em đã đôi lần thất bại, chỉ muốn tìm đến cái chết. Chính khi đó, em đọc trên báo, biết là cô 3 lần từ chối sống. Em đọc và yêu đời hơn nhưng vẫn không thoát khỏi nỗi ám ảnh”. Tôi trả lời: “Tôi thức dậy sau một liều thuốc ngủ, quanh mình là màu trắng. Tôi nằm ngay căn phòng ngày trước mẹ tôi bị xe đụng và ra đi vĩnh viễn. Bên cạnh tôi, là cô bạn gõ cửa nửa đêm đã đưa tôi đến nhà thương. Cô ấy nghèo, lặn lội từ nơi xa thăm tôi. Thế đấy, vật chất, danh tiếng không hề tỷ lệ thuận với sức sống – nguồn nuôi dưỡng sự sống. Tôi bất chợt nhận ra mình đã sống phí, tôi cần sống…bù cho cái phần đời quá ngắn của má tôi. Vậy là xong.”

Chính khi nhận ra sự mong manh của Mất – Còn ấy, bạn sẽ được giải phóng khỏi sự sợ hãi vì mất, sự sung sướng vì ngỡ sẽ còn mãi mãi. Bạn nhìn thẳng vào từng sự việc, từng sự việc sẽ thẳng thắn với bạn.

- Trên cơ sở của những xung đột văn hóa lối sống, của nếp sống giữa tập thể - cá nhân, giữa cái sinh hoạt hằng ngày với toàn thể xung quanh…mà các bạn trẻ cập nhật cho tôi, chúng tôi kiến giải bằng những “công án” bình thường nhất, giản dị nhất, gần gũi nhất và thiết thân cho từng cá nhân trong từng tình huống. Ở đó, tôi không chỉ là người nói, người ca, người diễn xướng mà tôi còn là thính giả, là cử tọa…

Hãy trò chuyện và đối thoại, hãy tranh luận và lắng nghe các bạn trẻ; khi họ không tìm ra sự lắng nghe và đối thoại, các bạn trẻ sẽ co cụm và độc thoại. Họ chông chênh, họ bất ổn và họ dễ tự suy luận, tự diễn dịch, tự hủy diệt. Tìm ra cả sự bất ổn, chông chênh cùng họ là đã bắt gặp những hạt châu đầu tiên bám trên chéo áo để khi bước sang giai đoạn mới, bạn sẽ yên tâm khi chính họ sẽ tìm ra chính những viên ngọc châu nằm sâu trong trái tim và khối óc của họ.

3. Ghi nhận từ những thử nghiệm:

  • Các tác phẩm nghệ thuật:

- Một kinh nghiệm khi tôi và nhóm thực hiện công trình Thể nghiệm sân khấu Hoàng hậu của hai vua là: chúng tôi nghiên cứu kỹ ý thức hệ tư tưởng của thời kỳ nhân vật Thái hậu Dương Vân Nga để chọn một Điểm nhìn của Nhân vật. Hay đến công trình Trần Nhân Tông – đỉnh cao của Phật giáo hệ Thiền Tông Trúc Lâm để quán xuyến từ hình tượng nhân vật đến ngôn ngữ, tính cách, hành xử…đều thấm đẫm ý thức hệ này. Chính khởi điểm có tính cơ bản này đã đem đến cho các vở diễn trên một sắc diện riêng, tạo thành một chỉnh thể nghệ thuật hoàn mỹ, thu phục công chúng, đặc biệt là công chúng trí thức trẻ rất cao.

  • Các công trình chuyển thể Kinh Phật – Trường ca cải lương

- Tôn giáo và âm nhạc là ngọn nguồn của văn hóa. Tôi sinh ra là một nghệ sĩ ca cầm. Âm nhạc trong tôi thấm từng thớ thịt. Và nó cũng là sự lựa chọn số một khi tôi quyết định chuyển thể các Đại tạng kinh. Không chuyển thể trên các bản Luận vì e rằng, giữa một rừng Luận sẽ dễ làm thêm rối. Tôi chọn con đường trực chỉ là đi thẳng vào Kinh, dùng nghệ thuật – âm nhạc như một kiểu Luận mà quy luật sẽ diễn tiến từ Cảm đến Hiểu. Trường ca Kinh Pháp Cú là cuộc trình diễn đầu tiên và cũng là tác phẩm mang đến cho tôi nhiều sự bất ngờ nhất, đến giờ này. Đến nay, Kinh Pháp Cú liên tục được in sang tái bản để đáp ứng nhu cầu nghe – xem và thấu cảm của công chúng. Bản chuyển thể này đã được trình diễn không chỉ trong Tăng, Ni mà cả trong các chương trình nghệ thuật – giải trí có giá trị về chất lượng nghệ thuật cũng như yếu tố giải trí thị trường.

Qua sự phản hồi tôi nhận thấy có mấy điểm đáng chú ý sau:

+ Trước hết vì sự tò mò, công chúng muốn xem các nghệ sĩ ca – diễn kinh Phật như thế nào. Bởi đây không phải là một vở Tuồng như họ đã từng xem. Sau đó những lời diễn giải hết sức gần gũi, dễ hiểu và có sự tham gia của chính họ trong đó, nghĩa là những khúc mắc, ẩn ức, ưu tư về thói tham, sân, si ở đời, ở người đều được luận bàn ở đây qua những câu ca tiếng nhạc. Họ cảm thấy có tiếng nói của mình và được lắng nghe.

+ Chính khi không dùng cốt truyện để chuyển tải mà trực chỉ đi vào Kinh nên phản hồi cũng trực tiếp và trực diện. Họ phản hồi không phải vì ca hay, diễn giỏi mà vì những vấn đề họ đã sáng hoặc đang u u minh minh. Từ đây, ý thức đối chiếu, lý giải và phát triển nhận thức được nâng cao. Nghệ thuật đã đạt được hiệu quả thẩm mỹ và nhận thức.

+ Trong quá trình thực hiện, chúng tôi kết hợp nhiều ngôn ngữ âm nhạc, trong đó lấy âm nhạc dân tộc và Cải lương làm chủ đạo. Sự gần gũi này đã mang lại một thấu cảm tuyệt vời. Bên cạnh đó chúng tôi gắn với những không gian địa lý – vùng, miền – địa danh của đất nước, khu vực…Vì thế, không chỉ đem đến nội dung giáo lý mà cả một bức tranh về các địa danh, về lịch sử của những vùng đất, danh thắng và con người. Ví dụ, với Phật giáo và dân tộc thì đây là một Trường ca Cải lương Phật giáo – lịch sử Việt Nam, giúp công chúng nghe kinh Phật bằng âm nhạc, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của phong cảnh quê hương và những vùng đất kỳ thú trong khu vực…

+ Như đã nói, vì không quan niệm đi vào chức năng “giáo dục” những bài học làm người nên giữa chúng tôi và công chúng, nhất là công chúng trẻ không có vị thế của người truyền giảng với người thụ hưởng mà cả tôi lẫn họ đều cùng tham dự trong một seminar về những vấn đề cùng quan tâm, đối diện. Cuộc sống và những khó khăn, vật lộn, thử thách là một phần tất yếu của những chủ đề được truyền thị từ kinh Phật đến đời sống hằng nhật hôm nay. Và tôi, và các bạn là một phần góp thêm vào kho tàng triết học ấy bằng diễn tiến sống, nghiệm sinh từng ngày. Từ đó, không khó khăn gì khi thức tỉnh, khơi nguồn và đốt cháy tình yêu tổ quốc, đồng bào, nhân loại, ý thức sống trách nhiệm với cộng đồng, với gia đình, với bạn bè và đặc biệt là với chính bản thân mình. Các bạn làm việc và cống hiến tuổi trẻ nhưng đồng thời tích lũy cho mình một nền tảng văn hóa, nhận thức căn cơ để đứng trước xung đột, bi kịch không chông chênh và gục ngã. Họ đi tới, ngay cả thất bại là một phần trong kế hoạch đời họ.

Hiện hai tác phẩm Phật giáo và dân tộc cùng Tình ca Quán Âm cũng vừa được NXB Phương Nam ấn hành nhân mùa Phật Đản 2008, tiếp tục cho tôi thử nghiệm con đường đưa nghệ thuật, âm nhạc dân tộc vào trong Kinh Phật và đưa triết học Phật giáo trực chỉ âm nhạc, nghệ thuật dân tộc.

Cuối cùng, tôi chỉ muốn đạt một ước muốn: tích lũy cho các bạn trẻ một trữ lượng văn hóa, thông tin cần thiết để họ có năng lượng và nội lực dồi dào, khoẻ khoắn sẵn sàng mở toang cánh cổng thời cuộc và thời đại, chủ động đón mọi luồng gió mới.

V. Kết luận

Tôi đã từng rời bỏ sự sống khi tuổi vừa tròn 20, tôi hiểu cái cảm giác với tay không đụng trời, huơ chân không chạm đất. Cuộc chạy tiếp sức của tôi bằng Cải lương Phật giáo cũng không ngoài mục tiêu cân bằng cái khoảng chân không lơ lửng ấy cho những người trẻ như tôi đã từng. Sự tích lũy năng lượng sống không phải là số đếm hay phép cộng trừ mà là cả một hành trình nghiệm sinh vừa đau đớn, thách thức vừa khám phá và thức tỉnh.

Phật giáo nhập thế và sự phát triển, theo tôi không thể đứng ngoài dòng chảy của sự biến chuyển, dịch chuyển toàn cầu hôm nay. Nhập hay xuất, tận cùng cũng là phương tiện để tải đạo, bản thân cuộc sống và con người sẽ là mục đích cao cả nhất. Bên ngoài cánh cửa kia thôi, nơi không hiện diện những trang giấy, những dòng chữ, những vấn đề mà tôi và quý vị cùng trăn trở trong các tham luận này. Ngoài kia là giá cả đang leo thang, là nạn lạm phát đang bùng nổ, là sự bất an trên mỗi con đường, mỗi con người… Khép lại những trang giấy này, như là một điểm dừng để ngày mai, chúng tôi lại tiếp tục lên đường, lại đưa những trang Kinh, lời Vàng đi vào cuộc sống, gõ một hồi chuông vào chính mình để nhận ra: cuộc sống là trang Kinh tuyệt vời nhất.

________________

  • Các tác phẩm: Hoàng hậu của hai vua, Độc thoại đêm, Diễn kịch một mình, Trần Nhân Tông…
  • Các công trình: Kinh Pháp Cú, Phật giáo và dân tộc, Tình Ca Quán Âm, Vườn thiền rừng ngọc, Hai quãng đời của Sơ Tổ Trúc Lâm.