(trở về mục lục)

Nguyên lý đạo Phật trong tâm lý liệu pháp phưong Tây

TS Julie Wagner
Giáo sư trợ lý,
Ban Sức Khỏe Cộng Đồng và Khoa Học Hành Vi

Thích nữ Diệu Thi dịch

Lời Phật dạy và tâm lý trị liệu phương tây cùng có mục đích chung là giảm đau khổ cho chúng sinh. Tâm lý trị liệu phương tây nhanh chóng kết hợp chặt chẽ với các nguyên lý của đạo Phật, nhất là chánh niệm, với khái niệm và trị liệu đau khổ của chúng sinh. Một nghiên cứu gần đây với hơn 2000 bệnh nhân điều trị bằng tâm lý liệu pháp ở Mỹ cho biết “nhiếp tâm chánh niệm” định hướng cho nhà tâm lý liệu pháp đứng hàng thứ ba như phương thức trị liệu được ưa thích nhất.

Trong số những trường phái tâm lý trị  liệu, cách trị liệu qua hành vi được sử dụng rộng rãi và rất có hiêu lực. Trong tâm lý trị liệu phương tây, chúng tôi đang nằm trong “làn sóng thứ ba” về viêc can thiệp liệu pháp trị liệu qua hành vi. Làn sóng thứ nhất đặt trọng tâm vào tác nhân kích thích và hưởng ứng trong điều kiện cổ điển và quan sát được.

Làn sóng thứ hai là liệu pháp hành vi dựa trên kinh nghiệm, cách này sẽ thay đổi nội dung ý tưởng để thay đổi cách chúng ta cảm nghĩ. Các loại tâm lý trị liệu trực tiếp đối đầu cách suy nghĩ, cảm nghĩ và hành động không thích nghi lắm.

Làn sóng thứ ba hiện nay đặt nền tảng trên nhiếp tâm chánh niệm và tán thành.

Trong phong cách đặt trên nền tảng nhiếp tâm chánh niệm và tán thành, nhàtâm lýtrị liệu giúp bệnh nhân thay đổi mối quan hệ kinh nghiệm cá nhân hơn là thách đố trực tiếp. Khi bệnh nhân đi đến quyết định tâm lý trị liệu, họ không thích cái gì họ nghĩ và họ xử sự như thế nào – họ muốn ít lo lắng, ít phiền muộn, hay muốn uống, ăn it hơn. Nhà tâm lý trị liệu tạo lại quan hệ bệnh nhân đối với vấn đề bằng tò mò và chấp nhận phút từng phút về kinh nghiệm không thoải mái của họ.

Những ví dụ như phương pháp trị liệu từ làn song thứ ba gồm Giảm Stress trên căn bản Nhiếp tâm chánh niệm (Jon Kabat-Zim, 1990); Tâm Lý Liệu Pháp Hành vi Biện chứng (Marsha Linehan, 1993); Tâm Lý Liệu Pháp chuyển và nhận (Teasdale, 2002), và Nhiếp tâm chánh niệm dựa trên Tâm Lý Liệu Pháp liên quan đến nhận thức (Kristeller,1999). Mỗi cách thể hiện các vấn đề có hiệu quả mà theo lịch sử, không thích ứng tốt so với 2 cách đầu về tâm lý trị liệu gồm rối loạn thần kinh, tự tử và tự tổn thương, và rối loạn ăn uống.

Cách giới thiệu này sẽ:
1)  Thảo áp dụng căn bản và lịch sử tâm lý liệu pháp phương tây.
2)  Cung cấp ví dụ cho việc áp dụng nguyên lý đạo Phật trong tâm lý liệu pháp.
3)  Ôn lại tính hiệu quả của các phương pháp trị liệu mới.
4)  So sánh và tưong phản giữa áp dụng đạo Phật và tâm lý trị liệu.
5)  Thảo luận giới hạn khi áp dụng nguyên lý đạo Phật trongntâm lý liệu pháp.

Tiểu Sử

Tiến sĩ Julie Wagner là giáo sư trợ lý trong Ban Khoa Học Hành Vi Và Sức Khỏe Cộng Đồng ở trường Y va Nha ở đại học Connecticut (Mỹ). Julie nhận bằng B.A ở trường St Mary ở Maryland; Bằng MA ở đại học Pacific; bằng PhD ở đại học Rhode Island, và là thành viên sau đại học ở trung tâm chăm sóc sức khỏe Connecticut. Bà là nhà tâm lý khám và điều trị hợp pháp mà những chương trình nghiên cứu khảo sát người cộng tác tâm lý xã hội với biến chứng tim mạch của tiểu đường.

Với tư cách nhà nghiên cứu, Julie in bài viết do hơn 30 bạn cùng nhóm duyệt lại, 3 chương trong sách đã biên tập, và hiện nay đang hợp tác viết một quyển sách. Bà đóng góp hơn một triệu đô la vào quỹ nghiên cứu của Hội về Bệnh Tim ở Mỹ, Hội về Bệnh Tiểu Đường ở Mỹ và Viện Sức Khỏe Quốc Gia.

Julie được giáo dục theo chương trình giám mục tin lành. Như người tìm kiếm tâm linh, bà dần dần theo đạo Phật hơn 20 năm qua, từ lúc học trung học. Bà qui y năm 2003, cùng năm bà ghi danh học Phật Pháp  với Thượng Tọa Thích Trí Hoàng.

Bà học xong chương trình này năm 2006, được học bổ túc một năm với TT. Hoàng. Năm 2007, TT Hoàng xem bà là Giáo thọ ở Ni Đoàn Hải Ấn. Julie là thành viên tích cực của nhóm cư sĩ ở chùa Hải Ấn, New Britain Connecticut. Bà đang hỗ trợ việc giảng dạy chương trình học nơi bà đã tốt nghiệp, dưới sự chỉ đạo của TT Hoàng. Bà cũng là nhà cố vấn dày kinh nghiệm của khóa học hàm thụ Trại giam Phật giáo. Bà rất thích áp dụng thường xuyên với giáo đoàn, dự những khóa  trị liệu, và tổ chức những ngày chánh niệm cho những người thực tập cư sĩ.

Về đời sống cá nhân, Julie lập gia đình năm 2007. Bà rất ưa thích đi bộ đường dài, đọc sách, chăm sóc chú mèo cưng và quan sát nhận dạng loài chim.