(trở về mục lục)

Phật giáo nhập thế: một phương diện hiện đại.

Đại đức Tiến sĩ  Thích Quang Thạnh
Thành viên Uỷ Ban Tổ Chức Quốc Tế tại Việt Nam
Giảng viên Học Viện Phật Giáo tại TPHCM

Thời hậu hiện đại là một minh chứng cho sự phát triển tột đỉnh trong lãnh vực khoa học kỹ thuật, nhưng sự suy thoái về tư cách và đạo đức cũng theo đó len lỏi vào. Quan điểm này đã được học giả nổi tiếng P.A. Payutto phát biểu rất thuyết phục rằng:  

Cùng với sự tiến bộ kỹ thuật, đặc biệt cái gọi là kỹ thuật cao đề cập đến những thông tin liên lạc, ngày càng nhiều những công cụ làm việc mang lại hiệu quả vì tính tham lam và lòng sân hận. Ngành kỹ thuật đã trở thành tay sai của sự tham lam và lòng căm hờn, sự tiến bộ kỹ thuật trong hình thức phát triển công nghiệp hầu như không giới hạn. Ngành khoa học, công nghệ và sự tiến bộ kỹ thuật thông tin liên lạc thường ru ngủ con người vào trong sự tiêu huỷ, đần độn và say sưa lơ là hơn là sự phát triển cá nhân hoặc sự quân bình cuộc sống. Chúng được sử dụng như những công cụ để mưu cầu mục đích khát vọng, và với việc làm như thế, khiến phát khởi lòng sân hận vì sự ganh đua mà chúng tạo ra.[1]

Ngài cũng nhận định với giọng nhấn mạnh và than phiền rằng sự phát minh khoa học kỹ thuật như những công cụ mưu cầu mục đích khát vọng hơn là sự phát triển nội tâm con người, và rằng con người ở thế kỷ 20 gây ra nhiều hành vi nguy hại làm ảnh hưởng đến bản chất con người của thế kỷ 21. Đó là một di sản của những vấn đề nan giải mà con người của thế kỷ 21 sẽ phải đối phó.[2] Trên thực tế, di sản mà con người đề cập chính là những vấn đề rất nghiêm trọng về sự gia tăng dân số, sự thoái hóa tài nguyên thiên nhiên và sự khủng hoảng môi trường, đang đe dọa nền tảng của sự sống trên hành tinh này, như Ngài H. H. Dalai Lama thứ 14 đã đề cập.[3] Hay nói cách khác, chính sự khủng hoảng đạo đức con người là nguyên nhân chủ yếu đưa đến nạn bạo động và khủng bố, chứng bệnh nan y và nguy hiểm của HIV/AIDS, nạn mại dâm, bệnh đồng tính luyến ái, sự hờ hững về nhân quyền và các loài sinh vật, sự phá huỷ môi trường sinh thái… Tất cả đều xuất phát từ ba phiền não (tham, sân, si) của con người. Vì nhu cầu danh lợi, địa vị xã hội, tiền tài, vật chất, chức tước, và nhiều sự mong muốn khác khau,… trong cuộc sống hiện đại, con người đã trở thành tay sai cho sự tham lam, sân hận và si mê. Mặc dù, họ có thể chiến thắng và chinh phục thiên nhiên bằng tất cả những loại phát minh khoa học tiên tiến, nhưng vẫn bị khuất phục và trói buột bởi sự đau khổ của sanh, già, bệnh và chết trừ khi vị ấy biết tôn trọng và duy trì sự tu tập đạo đức và nội tâm.   

Đứng trước những tình huống hiện nay, làm thế nào để đối phó với cái gọi là những làn sóng văn minh vật chất đang tấn công con người từ nhiều phương diện khác nhau? Làm thế nào để duy trì truyền thống gia đình, nhân cách và trật tự xã hội? Đề tài “Phật Giáo Hội Nhập: Một Phương Diện Hiện Đại” không chỉ mở ra một tầm nhìn mới mẽ, năng động và sáng tạo về hình ảnh người tu sĩ Phật giáo trong thời đại mới, với những phương tiện thiện xảo tùy duyên bất biến trong việc dấn thân vào cuộc đời, mà còn đóng góp cho sự phát triển xã hội cũng như Phật giáo trong hiện tại và tương lai.  

Như chúng ta biết, ngoài việc tu tập Tam Vô lậu học (Giới, Định và Tuệ) để phát triển tâm linh cũng như việc truyền bá Phật pháp đến mọi người, tu sĩ Phật giáo với những phương tiện thiện xảo, cần phải tích cực tham gia trong việc xây dựng nền văn minh lành mạnh qua các mặt hoạt động xã hội vì an lạc hạnh phúc cho con người. Một quan điểm tích cực và năng động như thế được vị thiền sư D.T. Suzuki  diễn đạt rất thuyết phục rằng:

Ngày nay, chùa chiền Phật giáo là những trường học, bệnh viện, phòng khám bệnh, trại mồ côi, nơi nương tựa của những người già; và những vị tu sĩ là những vị giáo viên, y tá, bác sĩ, kỹ sư, người quản lý nhà trọ miễn phí, những người trồng trọt, những nhà thám hiểm ở vùng hoang dã, …khi cộng đồng đang trong giai đoạn tiến triển ban sơ, những người đệ tử Phật là những nhà lãnh đạo trong mỗi chiều hướng, và chính quyền tự nhiên khuyến khích về hoạt động của họ.[4]

Thêm vào đó, Ngài Ajahn Tiradhammo Thera đã tô điểm thêm một đoạn phát biểu rất lập luận trong lời nói đầu của ngài:

Một người đệ tử Phật, đối với tôi không chỉ là người nào đó đơn thuần nằm lòng những thể thức đúng đắn hoặc phải mặc đồng phục cần phải có, mà còn là người sống một đời sống hành thiện trên tinh thần đúng với lẽ phải. Đây là toàn bộ mục đích tối thượng về lời dạy của đức Phật. Một nhà hoạt động xã hội khi ấy là người luôn sống với trí tuệ và lòng từ trong khung cảnh xã hội, học tập để chia sẻ kho tàng tâm linh vị tha với tất cả chúng sanh.[5]

Hai quan điểm này không những đủ để thuyết phục những quan điểm khác, mà còn đủ để khẳng định vai trò tích cực và khéo léo của người tu sĩ Phật giáo ngày nay.  

A. NHÀ TRUYỀN BÁ PHẬT GIÁO HIỆN ĐẠI

Ngày nay, một nhà truyền bá Phật giáo khi muốn hoằng pháp hợp theo căn cơ của thính giả, cần phải thông thạo về tâm lý học và xã hội học. Vì sao? Vì tâm lý học sẽ giúp vị ấy hiểu rõ về những đặc tính tư tưởng của con người và bản chất cũng như cư xử tâm lý của mỗi cá nhân trong xã hội hầu ứng dụng giáo lý thích hợp vào trình độ căn cơ của thính giả. Xã hội học sẽ giúp vị ấy hiểu được những mối quan hệ giữa con người sống trong quần thể, đặc biệt là trong xã hội công nghiệp. Từ đó, vị ấy có thể ứng xử đúng mức với nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội khi hoằng pháp. Chúng ta có thể đưa ra vài ví dụ tiêu biểu và rất thực tế rằng khi thuyết giáo cho những đối tượng thính giả có tính khí năng động, sáng tạo và thẳng thắn, một nhà truyền bá Phật giáo sẽ thuyết giáo với lời nói năng động, sáng tạo và thẳng thắn; với người có bản tính lịch thiệp và phóng khoáng, vị ấy sẽ thuyết giảng với lời nói lịch sự và cởi mở; với người khó tính và ít nói, vị ấy sẽ dùng lời nói súc tích và hợp lý; với những đối tượng lãng mạn và dễ xúc cảm, vị ấy sẽ cư xử một cách nhẹ nhàng, tử tế và văn hoa; với người trí thức, vị ấy sẽ dùng lời nói trí thức và gia giáo; hoặc với những người thuộc nhiều tầng lớp khác nhau như bác sĩ, kỹ sư, công nhân, nhân viên, quan chức, nhà khoa học, nhà triết học, nhà tâm lý, sinh viên, học giả, thi sĩ, nhà văn,…, lời thuyết giảng của vị ấy sẽ tương xứng với kiến thức, nghề nghiệp và vị trí của họ trong xã hội. Với một lối thuyết giảng khéo léo như thế, người truyền bá Phật giáo không những sẽ thành công trong vai trò và nhiệm vụ tôn giáo, mà còn thích hợp cả trình độ căn cơ của thính giả và tinh thần truyền bá Phật giáo năng động bằng những phương tiện thiện xảo ngày nay.

B. NHÀ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI

Ngay tại đây, một câu hỏi rất hợp lý và thực tiễn được đặt ra rằng muốn làm vơi đi nỗi đau khổ về tinh thần của con người và sự khủng hoảng xã hội hiện nay, một nhà truyền bá Phật giáo trong thời đại mới cần phải làm gì và bằng cách nào để thực hiện vai trò tham gia xã hội của mình?

Trở về thời của đức Phật, bản thân Ngài, với vai trò là một vị Đạo sư cũng như một nhà truyền bá với những phương tiện thiện xảo phục vụ xã hội trong suốt 45 năm, Ngài chưa từng ruồng bỏ xã hội; ngược lại, chính Ngài lại tham gia nhiều lãnh vực chính trị, xã hội, văn hóa khác nhau mà vẫn không thay đổi bản chất Phật của mình với mục đích duy nhất là ‘vì an lạc hạnh phúc số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì sự lợi ích, an lạc, hạnh phúc cho Chư thiên và loài người.’ Ngài không chỉ hướng dẫn các hàng vua chúa làm thế nào mang lại cuộc sống sung túc và hạnh phúc cho bá tánh; mà còn khuyến khích và chỉ dạy con người làm thế nào để biểu hiện những phong cách và thái độ tốt đẹp với nhau trong lề lối đạo đức đúng đắn, đặc biệt trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, chồng và vợ, chủ và tớ, và bạn bè với nhau…[6]

Ngày nay, để đối diện với những vấn đề khủng hoảng xã hội hiện nay như: môi trường sinh thái, bệnh dịch HIV/AIDS, bệnh đồng tính luyến ái, nạn mại dâm, chiến tranh, bạo động và khủng bố, tình yêu, tình dục và hôn nhân…; một nhà truyền bá Phật giáo, trong khi tham gia vào các hoạt động xã hội vì mục đích và vai trò tôn giáo của mình, không những cần nắm bắt thấu đáo về các tình huống xã hội và tính khí con người hiện nay, mà còn thực hiện khéo léo làm thế nào để giảm bớt nỗi khổ đau và khủng hoảng xã hội. Ở đây, chúng ta sẽ nghiên cứu và thảo luận vài trường hợp tiêu biểu liên quan đến từng vấn đề sau đây:

- Với môi trường sinh thái, đặc biệt về những thảm họa về ô nhiễm không khí,  tu sĩ Phật giáo một mặt giải thích súc tích và hợp lý cho mọi người về giá trị và tầm quan trọng thực tế môi trường sinh thái; khuyến khích họ biết tôn trọng, bảo vệ và duy trì mạng sống của nhân loại, các loài thực vật, động vật và thiên nhiên; mặt khác kết hợp với họ cùng trồng cây gây rừng, tôn trọng, bảo vệ tất cả các loài thực vật và động vật, giữ gìn không khí và nguồn nước trong sạch và không ô nhiễm, … những hành động khéo léo như thế sẽ làm giảm bớt sự đau khổ tinh thần cho con người và sự khủng hoảng môi trường sinh thái.

- Với bệnh dịch HIV/AIDS, người truyền bá Phật giáo trước hết cần thấu hiểu rõ ràng về ý nghĩa và nguyên nhân bệnh dịch HIV/AIDS. Đó là bệnh nhiễm vi- rút thiếu hụt hệ thống miễn dịch con người (HIV: Human Immunodeficiency Virus) gây ra hội chứng liệt kháng thể (AIDS: Acquired Immune Deficiency Syndrome) qua ba đường truyền chính: (1) quan hệ sinh lý với người bị nhiễm; (2) truyền máu của người bị nhiễm; và (3) người mẹ bị nhiễm đang mang thai.[7] Kế đến, vị ấy kết hợp với những đoàn thể xã hội thành lập và tham gia vào việc tuyên truyền cho mọi người về cách ngăn ngừa bệnh dịch HIV/AIDS; theo dõi chăm sóc thuốc men kỹ lưỡng, chăm sóc những bệnh nhân bị nhiễm HIV/AIDS ở giai đoạn cuối; ủng hộ những bệnh nhân mới bị nhiễm HIV/AIDS bằng cách đào tạo hướng nghiệp, khuyên nhủ họ theo tâm lý, hướng dẫn phương pháp thiền định của Phật giáo một cách có hiệu quả và lợi ích, tạo ra những thú tiêu khiển lành mạnh và các môn thể thao ưa thích (như: bóng đá, bơi lội, cầu lông, võ thuật..,) hầu làm cho họ tăng thêm sức đề kháng mạnh mẽ.[8] Việc làm như thế không chỉ làm giảm đi bệnh dịch HIV/AIDS mà còn giảm đi những tai họa cho xã hội.

- Đối với nạn mại dâm và bệnh đồng tính luyến ái, đó là những vấn đề vô cùng phức tạp nhưng rất tế nhị gây nhiều cuộc tranh luận và sự giải thích từ những quan điểm của các nhà học giả nổi tiếng, đặc biệt là bệnh đồng tính luyến ái. Đối với nạn mại dâm, nó chính là nguyên nhân chính yếu dẫn đến bệnh dịch HIV/AIDS qua việc quan hệ tình dục, và dẫn đến tai họa cho xã hội. Để tháo gỡ những vấn đề phức tạp nhưng tế nhị này, một tu sĩ Phật giáo cần cư xử tốt với họ bằng những phương tiện thiện xảo của mình như: đối với những người đồng tính luyến ái, vị ấy thực hiện vai trò tích cực bằng cách khuyên răn và hướng dẫn chuyên nghiệp về tâm lý sống, về giá trị của một con người đúng đắn, về những hậu quả tai hại từ những hành vi không hợp lý và không tự nhiên của con người;  khuyên nhủ và khuyến khích họ nên có quan hệ với người khác giới tính; khuyến khích họ chơi  những môn thể thao và những thú vui lành mạnh cũng như chuyển đổi liệu pháp tâm lý hoóc - môn và diện mạo cơ thể bên ngoài của họ để thích hợp với tâm lý giới tính thật sự của họ. Với những người mại dâm, vị ấy hướng dẫn khóa học đào tạo hướng nghiệp đặc biệt cho họ, tìm cho họ những công việc đúng đắn và thích hợp, và dùng những lời khuyên chuyên nghiệp về tâm lý sống, về giá trị của một con người đúng đắn, về những hậu quả tai hại từ những hành vi không hợp lý và không tự nhiên của con người…một vai trò sáng tạo và khéo léo như thế  sẽ làm mất dần về những vấn đề nan giải của xã hội ngày nay.

- Về vấn đề chiến tranh, bạo động và khủng bố, người truyền bá Phật giáo đầu tiên trao đổi với họ bằng những lời giải thích đầy thuyết phục và những bằng chứng thực tế về những thiệt hại trầm trọng cho con người và xã hội từ những hành vi chiến tranh, bạo động và khủng bố; sau đó khuyến khích và hướng dẫn họ một cách khéo léo thực hành tinh thần bất bạo động của Phật giáo (non-violence - ahiṃsā) bằng cách tu tập lòng từ và sự đồng cảm vì hòa bình, hạnh phúc và an lạc thật sự cho mình và cho tất cả chúng sanh. Thật sự, việc thực hành bất bạo động này không những ngăn chặn những xung đột, bạo động, chiến tranh gây đau thương cho con người và xã hội mà còn xây dựng một xã hội hòa bình và lành mạnh, hàn gắn lại các vết thương chiến tranh cũng như thắc chặt nguyên tắc quý trọng về sự bình đẳng, hữu nghị và tự do.   

- Tình dục, tình yêu và hôn nhân là ba vấn đề quan trọng và cần thiết trong cuộc sống của chúng sanh nói chung và con người trần thế nói riêng; ba vấn đề này cũng gây cho con người nỗi đau khổ và bất hạnh nhiều hay ít tuỳ theo sự thấu hiểu và thực hiện đúng đắn những vấn đề này với một thái độ tử tế và lịch thiệp. Trước khi thực hiện vai trò và nhiệm vụ tôn giáo của mình, người truyền bá Phật giáo không chỉ thấu hiểu triệt để về bản chất tâm lý của họ mà còn duy trì quan điểm cởi mở hầu truyền đạt và hướng dẫn kiến thức về những vấn đề này cho con người. Đối với tình dục, nó đóng một vai trò quan trọng và then chốt trong việc duy trì và phát triển lâu dài về tình yêu và cuộc sống hôn nhân con người. Tuy nhiên, tình dục có thể là một đầy tớ tốt và cũng có thể là một ông chủ bất lợi. Nếu con người sử dụng tình dục điều độ với lý do chính đáng, tình dục sẽ trở thành một đày tớ tốt; ngược lại nó là một ông chủ có hại. Vì thế, người truyền bá không chỉ cung cấp sự giáo dục đúng đắn và kiến thức chuyên môn về kỹ thuật và thực hành sinh lý với một phương pháp có hiệu quả và chuẩn mực thích hợp đối với đạo đức con người và cuộc sống xã hội; mà còn hướng dẫn họ làm thế nào tiết độ tình dục của mình hầu có được một thân thể và tinh thần khỏe mạnh. Tương tự tình yêu và hôn nhân cũng vậy. Đối với vấn đề tình yêu, nó cũng có thể là một liều thuốc bổ nhất hay trở thành liều thuốc độc và thuốc phiện nguy hiểm nhất khi chứng bệnh tâm thần của họ đang tái phát. Tình yêu cũng có thể là một nguồn nước tinh khiết và mát mẽ hay trở thành một nguồn cung cấp nước ô nhiễm và có hại khi con người đang khao khát nước. Tất cả tùy thuộc vào lý trí, sự hiểu biết, việc làm và thái độ về những hành vi ý thức hay không ý thức của con người. Do đó, một nhà truyền bá lý tưởng cần hướng dẫn đúng đắn về tình yêu cho họ tùy theo tuổi tác, căn cơ, phong cách và sự hiểu biết… Vị ấy hướng dẫn họ làm thế nào tạo mối liên hệ tình yêu lâu dài bằng thái độ lịch sự và nhã nhặn, sự hiểu biết lẫn nhau, sự tôn trọng và thông cảm lẫn nhau, chia sẻ cho nhau trong lúc khó khăn và hạnh phúc; xây dựng cho nhau khi có lỗi lầm; … Sự hướng dẫn khéo léo về tình yêu của vị ấy sẽ làm người nghe thỏa mãn và thành công trong một tình yêu đầy ý nghĩa. Tóm lại, tình dục và tình yêu là nhu cầu quan trọng và không thể thiếu đối với cuộc sống con người đời thường. Nếu tình dục mà thiếu đi vị ngọt của tình yêu, nó chỉ là một cảm giác trống vắng; ngược lại, tình yêu mà không có sự hiện hữu của tình dục, nó trở thành một tình yêu vô vị. Chúng ta có thể nói nghiêm túc rằng tình dục và tình yêu giống như một người có đủ hai chân trong hình dáng tự nhiên của con người. Nếu thiếu một trong hai, dáng vẻ vị ấy sẽ trông có vẽ không được tự nhiên. Hôn nhân chính là kết quả cuối cùng của một tình yêu đúng đắn mà con người khao khát muốn có được. Ý nghĩa và cách cư xử của nó tương tự như tình yêu nhưng thêm vai trò trách nhiệm của họ đối với cuộc sống và hạnh phúc lứa đôi, đối với cha mẹ chồng hoặc cha mẹ vợ, … Trong tình huống này, một nhà truyền bá Phật giáo cần dùng những lời khuyên chân thành cho đôi vợ chồng mới cưới bằng cách hướng dẫn họ làm thế nào để cư xử, tôn trọng, thông cảm, và có trách nhiệm với nhau theo năm cách mà đức Phật đã chỉ dạy trong kinh Trường Bộ;[9] làm thế nào tiết độ tình dục một cách hợp lý hầu làm cho thân và tâm dễ chịu, hoặc sức khoẻ và tinh thần tráng kiện: làm thế nào chia sẻ, xây dựng và tha thứ cho nhau những lỗi lầm để trở thành con người hoàn hảo… Cuộc hôn nhân đầy ý nghĩa như thế gọi là cuộc nhân hạnh phúc hoàn mỹ.

Nhìn chung, qua những quan điểm tích cực và mới mẻ được đề cập ở phần trên, người tu sĩ Phật giáo với nhiệm vụ tôn giáo của mình đã biểu hiện khéo léo và sáng tạo về vai trò dấn thân xã hội trên tinh thần tuỳ duyên bất biến trong nhiều phương diện như: môi trường sinh thái, bệnh dịch HIV/AIDS, bệnh đồng tính luyến ái, nạn mại dâm, chiến tranh, bạo động và khủng bố, tình yêu, tình dục và hôn nhân … Nếu vai trò này luôn được mọi người duy trì và tôn trọng triệt để, chắc chắn rằng nó không chỉ làm cho đất nước và xã hội ngày càng phát triển và thịnh vượng, mà còn mang lại cho con người một cuộc sống thanh bình đầy sự an lạc và hạnh phúc mãi mãi. Hình ảnh một vị tu sĩ Phật giáo lý tưởng như thế không chỉ mở ra một đạo lộ mới cho thế hệ trẻ tu sĩ Phật giáo ở tương lai trong vai trò tôn giáo thích ứng với quan điểm Phật giáo ngày nay, mà còn đóng góp cho sự nghiệp phát triển đạo đức và giáo dục con người trong bất kỳ tình huống xã hội nào trong thiên niên kỷ thứ ba.

SÁCH THAM KHẢO

Thích Minh Châu (dịch), Kinh Trường Bộ, Vol. II, TPHCM: Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1991.

Suzuki, D.T. Essay in Zen Buddhism (Thiền Luận), quyển III, New Delhi: Munshiram Manoharlal Publishers Pvt. Ltd., 2000.

Jones, K., The Social Face of Buddhism: An Approach to Political and Social Activism (Bộ Mặt Xã Hội của Phật Giáo:Sự hướng đến Chủ nghĩa Tích Cực Chính Trị và Xã Hội), London: Wisdom Publication, 1989.

Nārada, M., The Buddha and His Teachings (Đức Phật và Phật Pháp), Kandy, Sri-Lanka: Buddhist Publication Society, 1997.

Roscoe, G., The Triple Gem: An Introduction to Buddhism (Tam Bảo: Sự Giới Thiệu Phật Giáo), Chiang Mai, Thailand: Silkworm Books, 1994.

Harvey, P., An Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices (Sự Giới Thiệu Phật Giáo: Lời dạy, Lịch Sử và Tu Tập) , Delhi: Munshiram Manohalal Publishers Pvt. Ltd., 1990.

Warder, A. K., Indian Buddhism (Phật Giáo Ấn Độ), Delhi: Motilal Banarsidass Publishers Pvt. Ltd., 2000.

Sivaraksa, S. & et.al (ed.) Buddhist Perception for Desirable Societies in the Future (Sự Nhận Thức Phật Giáo đối với Xã Hội Đang Khao Khát), Bangkok: Thai Inter-Religious Commissionfor Development Sathirakoses-Nagapradipa Foundation, 1993.

Saddhatissa, H., Buddhist Ethics (Đạo Đức Phật Giáo), Boston: Wisdom Publications, 1997.

Silva, de L., Buddhism: Beliefs and Practices in Sri Lanka (Phật giáo: Niềm Tin và Sự Tu tập ở Sri Lanka), Delhi: Indian Books Centre, 1980.

Rahula, W., What the Buddha Taught (Đức Phật Đã Dạy Những Gì), Sri Lanka: Buddhist Cultural Centre, 1996.

King, M. Bruce, Human Sexuality Today (Giới Tính Con Nngười Hiện Nay), Upper Saddle River, New Jersey: Prentice Hall, 2002.


[1] Bài tham luận của P. A. Payutto, Buddhist Solutions for the 21st Century (Các Giải Pháp của Phật Giáo đối với Thế Kỷ 21), đọc tại Nghị Viện Tôn giáo Thế Giới ở Chicago, 1994, có giá trị tại trang Web: www.buddhismtoday.com/index/ sociology.htm

Như trên, có giá trị tại trang Web: www.buddhismtoday.com/index/sociology.htm.

[3] Bài diễn văn của Ngài  His Holiness The XIV Dalai Lama of Tibet, Human Rights and Universal Responsibility (Nhân Quyền và Trách Nhiệm Toàn Cầu), June 15, 1993, đọc tại Hội Thảo Quốc Tế Liên Hiệp Quốc về Nhân Quyền ở Vienna-Úc, có giá trị tại trang Web: www.buddhismtoday.com/index/sociology.htm

[4] D.T. Suzuki, Essay in Zen Buddhism (Thiền Luận),quyển III, New Delhi: Munshiram Manoharlal Publishers Pvt. Ltd., 2000, trang 369.

[5] Trích từ ‘Lời tựa của Venerable Ajahn Tiradhammo Thera’, trong Ken Jones, The Social Face of Buddhism: An Approach to Political and Social Activism (Bộ Mặt Xã Hội của Phật Giáo: Sự hướng đến Chủ nghĩa Tích Cực Chính Trị và Xã Hội), London: Wisdom Publication, 1989, trang 16.

[6]Thích Minh Châu (dịch), Trường Bộ Kinh, Quyển II, TPHCM: Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1991, trang 541; M. Nārada, The Buddha and His Teachings (Đức Phật và Phật Pháp), Kandy, Sri-Lanka: Buddhist Publication Society, 1997, trang 348ff; G. Roscoe, The Triple Gem: An Introduction to Buddhism (Tam Bảo: Sự Giới Thiệu về Phật Giáo), Chiang Mai, Thailand: Silkworm Books, 1994, trang 159ff; P. Harvey, An Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices (Sự Giới thiệu về Phật Giáo: Lời Dạy, Lịch Sử và Tu Tập), Delhi: Munshiram Manohalal Publishers Pvt. Ltd., 1990, trang 213f; A. K. Warder, Indian Buddhism (Phật Giáo Ấn Độ), Delhi: Motilal Banarsidass Publishers Pvt. Ltd., 2000, trang 178f; Hema Goonatilake, ‘Women and Family in Buddhism- Phụ nữ và Gia Đình trong Phật Giáo’, in S. Sivaraksa & et.al (ed.) Buddhist Perception for Desirable Societies in the Future (Sự Nhận Thức Phật Giáo đối với Xã Hội Đang Khao Khát), Bangkok: Thai Inter-Religious Commissionfor Development Sathirakoses-Nagapradipa Foundation, 1993, trang 227f; H. Saddhatissa, Buddhist Ethics Đạo Đức Phật Giáo), Boston: Wisdom Publications, 1997, trang 97ff; L. de Silva, Buddhism: Beliefs and Practices in Sri Lanka (Phật Giáo: Niềm Tin và sự Tu tập ở Sri Lanka), Delhi: Indian Books Centre, 1980, trang 132f; W. Rahula, What the Buddha Taught (Đức Phật đã Dạy Điều Gì), Sri Lanka: Buddhist Cultural Centre, 1996, trang 78ff-119ff.

[7] Xem thêm về ‘HIV Infection and AIDS - Bệnh Truyền nhiễm HIV và AIDS’ in Bruce M. King, Human Sexuality Today (Giới Tính Con Người Hiện Nay), Upper Saddle River, New Jersey: Prentice Hall, 2002, trang 116ff.

[8] Xem thêm ‘HIV và AIDS’, như trên, trang 120ff- 123ff.

[9] Thích Minh Châu (dịch), Trường Bộ Kinh, Quyển II, như trên, trang 181f. Xem thêm trong M. Nārada, The Buddha and His Teachings (Đức Phật và Phật Pháp), như trên, trang 349; G. Roscoe, The Triple Gem: An Introduction to Buddhism (Tam Bảo: Sự Giới Thiệu về Phật Giáo), như trên, trang 161f; P. Harvey, An Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices (Sự Giới Thiệu về Phật Giáo: Lời Dạy, Lịch Sử và Tu Tập), như trên, trang 214; A. K. Warder, Indian Buddhism (Phật Giáo Ấn Độ), như trên, trang 179f; Hema Goonatilake, ‘Women and Family in Buddhism- Phụ Nữ và Gia Đình trong Phật Giáo’, in S. Sivaraksa & et.al (ed.) Buddhist Perception for Desirable Societies in the Future (Sự Nhận Thức Phật Giáo đối với Xã Hội Đang Khao Khát), như trên, trang 228; H. Saddhatissa, Buddhist Ethics (Đạo Đức Phật Giáo), như trên, trang 99ff; L. de Silva, Buddhism: Beliefs and Practices in Sri Lanka (Phật Giáo: Niềm Tin và sự Tu tập ở Sri Lanka), như trên, trang132; W. Rahula, What the Buddha Taught (Đức Phật đã Dạy Điều Gì), như trên, trang 79-123.