(Trở về mục lục)

PHẬT GIÁO NHẬP THẾ TỪ CÁI NHÌN CHÍNH TRỊ VÀ XÃ HỘI

Đại đức Tiến sĩ THÍCH NHẬT TỪ
Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bài viết này, chúng tôi xin chia sẻ một vài ý tưởng cá nhân về nguyên lý nhập thế Phật giáo để khẳng định sự có mặt của tôn giáo này ở cuộc đời nhằm phục vụ nhân sinh và xã hội. Nói cách khác, bản chất có mặt của đạo Phật là sự nhập thế với phương châm mang lại lợi lạc, hạnh phúc, an vui cho loài người và cuộc đời.

PHỤNG SỰ CHÚNG SINH

Đạo Phật nổi tiếng trên khắp thế giới nhờ lòng từ bi và tuệ giác mà Đức Phật đã giảng dạy như hai điều kiện tiên quyết để đem lại hạnh phúc, an vui. Vì thế, đạo Phật còn được gọi là đạo Từ bi hay đạo Giác ngộ. Tất cả các nguyên lý nhập thế của đạo Phật nhằm thể hiện lòng từ bi đó đối với mọi loài. Các tôn giáo khác chủ trương những gì được giảng dạy trong kinh sách của họ thuộc về nhân bản hay nhân vị. Học thuyết ấy cho phép con người được quyền bảo hộ con người trong việc giết hại các loài vật khác để đem lại khẩu vị ngon cho mình. Trong khi đó, đạo Phật lại có nhiều lời dạy đa dạng, đơn giản và căn bản nhất là nhân bản, lấy con người làm trọng tâm, không lệ thuộc vào thần linh, Thượng đế. Từ đấy mang lại giá trị lợi lạc từ những nỗ lực cá nhân của con người. Đạo Phật còn dạy con đường lý tưởng về tâm linh cao hơn, giúp cắt đứt tiến trình của luân hồi trong ba cõi, năm đường được diễn ra ngay tại đời sống hiện tại.

Bản chất của đạo Phật, nhìn từ góc độ con người là nhân bản, nhưng ở góc độ cao hơn nữa, tính chất nhân bản không chỉ nằm ở chỗ phục vụ lợi ích cho con người mà còn phục vụ lợi ích an vui cho các loài động vật, thực vật có sự sống, thậm chí ngay cả các loại không có sự sống. Như vậy, ý niệm về chủ nghĩa nhân bản trong đạo Phật và các tôn giáo hoàn toàn khác nhau. Nếu ở các tôn giáo khác, nhân bản và nhân vị phục vụ con người bất chấp quyền lợi, hạnh phúc của các loài động vật, thì ở đạo Phật, ý niệm về nhân bản là lấy con người làm trọng tâm, phục vụ lợi ích, an sinh xã hội và hạnh phúc của con người cũng như các loài động vật và thiên nhiên. Câu tuyên bố nổi tiếng của Đức Phật trong kinh điển: “Phụng sự chúng sinh tức là cúng dường chư Phật” là nguyên lý nhập thế căn bản của đạo Phật. Trong các tôn giáo khác, tín đồ thường được khuyến khích phục vụ Thượng Đế, mở mang thiên quốc, tức nước Chúa trên bờ cõi quốc gia mình. Người đó sẽ có được tấm visa nhập cảnh vào thiên quốc sau khi qua đời, hưởng danh Đức Chúa đời đời kiếp kiếp. Ai không làm theo những gì Đức Chúa giảng dạy trong kinh điển, sau khi qua đời sẽ bị đoạ xuống hoả ngục mãi mãi. Vì sợ sự trừng phạt và mong được ân huệ của Đức Chúa sau khi chết mà người ta dấn thân phục vụ cộng đồng và xã hội. Do đó, việc thiết lập các giá trị nhân bản và nhân đạo của cuộc đời mang tính tương đối, gần như sự mua bán, đổi chác. Vì mưu cầu lợi ích cho bản thân nên tín đồ của các tôn giáo làm việc đó rất miễn cưỡng.

Nói cách khác, trong các tôn giáo, việc cung phụng Thượng Đế, làm hài lòng Ngài là phương châm nhập thế của họ. Do vậy, họ thường nêu ra những câu dạy, mến Chúa yêu đời. Chúa là đối tượng quan trọng nhất mà con người phải phục vụ. Yêu cuộc đời, yêu nhân loại là vế thứ hai kéo theo sau tình cảm yêu mến Chúa. Trong đạo Phật, phương châm nhập thế hoàn toàn đối ngược, “phụng sự chúng sinh tức là cúng dường chư Phật”.

Ở đây, Đức Phật chưa và không bao giờ dạy con người rằng, muốn được an vui hạnh phúc ở Niết Bàn, muốn được kết quả phúc báu trên cuộc đời, sống cuộc sống thực sự có ý nghĩa hãy phục vụ Ngài. Ngài thay thế sự phục vụ Ngài bằng phụng sự chúng sinh, tức đem phúc lợi xã hội đến với mọi người, mọi loài. Nếu Đức Phật được coi là đối tượng cao quý nhất vì sự giác ngộ và lòng từ bi của Ngài thể hiện và đóng góp cho nhân loại thì việc đền ơn, đáp nghĩa Ngài không phải là việc bày cúng hương hoa, thể hiện sự thành kính, đảnh lễ, tụng niệm, bái sám hằng ngày mặc dù các công việc đó, các Phật tử có niềm tin chân chính vẫn làm. Nhưng mục đích hoàn toàn khác với tín đồ của những tôn giáo khác ở chỗ không mưu cầu lợi lạc cho bản thân. Trong các bài sám nguyện của Phật tử được đọc hằng ngày trong các chùa Phật giáo Bắc Tông luôn gắn một câu nhập thế giản đơn, thân quen “đương nguyện chúng sinh”. Một thời khoá tụng kinh trong các chùa Bắc Tông ít nhất gặp câu này vài ba lần dưới nhiều hình tượng khác nhau “cầu cho tất cả mọi loài chúng sinh”. Nghĩa là, đạo Phật dạy cho con người mở lòng từ bi ở chỗ thể hiện lòng từ bi đó không giới hạn ở bất kỳ biên cương, bờ cõi, màu da, sắc tộc, giới tính, tuổi tác… Hễ ai là con người và những đối tượng có sự sống thì đều cần được sự chăm sóc, tình thương yêu lẫn nhau. Cách thức mở rộng tình thương yêu này làm tâm con người không bị giới hạn bởi bất kỳ hạn cuộc nào.

Trong khi ấy, tín đồ các tôn giáo khác đến với tôn giáo của họ thường cầu nguyện cho bản thân, gia đình, người thân vì tình cảm đó rất cao quý và trước nhất. Cho nên, lòng từ bi thường được thiết lập trên nền tảng của sự gần gũi, gắn bó, sau đó mới mở rộng tới mọi người, mọi loài. Đạo Phật dạy cách nhìn dung thông hơn, bao quát hơn. Lấy đối tượng chúng sinh làm nền tảng dấn thân, nhập thế thì trong đó đã gồm người thân và ngay cả chính bản thân mỗi người. Như vậy, trong lời cầu nguyện đơn giản đó, tâm của con người trở thành bầu trời mênh mông, không gian vô tận, đại dương vô bờ bến. Còn cầu nguyện cho bản thân mình thì như sự mưu cầu lợi lạc cho riêng bản thân nên giá trị tâm linh và phúc báu ở tình huống này hoàn toàn khác.

Bản chất câu tuyên ngôn “phụng sự chúng sinh là cúng dường chư Phật” của Đức Phật là một đẳng thức hoá, nâng tầm giá trị an vui lợi lạc của chúng sinh đến chỗ cao quý nhất được dâng cúng cho Ngài và các bậc Giác ngộ. Đức Phật thấy rõ, mục đích sự có mặt của Ngài trong cuộc đời không phải để phục vụ cho Ngài, mà mong thông qua lời dạy của Ngài, con người phụng sự con người, mang lại lợi lạc và hạnh phúc cho tha nhân. Nói cách khác, bản chất sự có mặt của đạo Phật là phục vụ nhân loại. Các tôn giáo khác ngược lại ở chỗ, con người phục vụ tôn giáo thông qua hình ảnh của Thượng Đế, từ đó mới phục vụ nhân sinh. Hai phương diện hoàn toàn khác nhau. Đạo Phật lấy con người làm trọng tâm, làm đối tượng để thể hiện lòng từ bi và nhập thế, còn các tôn giáo hữu thần, đặc biệt là các tôn giáo độc thần, thì lấy Thượng Đế làm đối tượng, thông qua Thượng Đế thể hiện tình thương của con người nên trở thành tình thương có điều kiện và bị giới hạn. Tình thương của Đức Phật dạy con người là tình thương vượt lên trên những hạn định đó.

NHẬP THẾ QUA TIẾP BIẾN

Từ phương châm nhập thế này, đạo Phật có mặt khắp nơi trên thế giới, trải qua trên dưới 26 thế kỷ. Tuỳ không gian, phong tục tập quán, lịch sử xã hội mà đạo Phật có những phương cách dấn thân và nhập thế phù hợp. Quan niệm nhập thế của Phật giáo ở Ấn Độ có những phần khác với Trung Hoa và Việt Nam. Người xuất gia được quan niệm là những người không màng tới những việc thuộc về cuộc đời, ngay cả việc nấu ăn tạo ra thực phẩm nuôi thân thể vật lý hằng ngày. Thay vào đó, người xuất gia được Đức Phật khuyến tấn, hằng ngày ôm bát, đắp y trang nghiêm, từng bước thảnh thơi đi vào từng khu phố, làng xã, ngõ hẻm, như một cơ hội tương tác nhập thế giữa đối tượng tâm linh và đối tượng đầy đủ về vật chất nhưng đang mưu cầu giá trị của tinh thần và đạo đức.

Sự giao hoán giữa hai hình thức tân và cổ, giữa xuất gia và tại gia đã làm cho đạo Phật thể hiện trọn vẹn được hai phương diện cần thiết cho đời sống là tinh thần và vật chất. Người xuất gia trong truyền thống của Ấn Độ vượt khỏi mọi giới hạn, định chế chính trị xã hội trong từng bối cảnh giai đoạn lịch sử và không còn dính líu tới những gì thuộc về thế sự, tình đời. Do vậy, tâm tính của người xuất gia mở ra một phương trời cao rộng. Mỗi bước chân của họ không chỉ mang lại lợi lạc an vui cho bản thân mà còn tạo dựng thế giới Cực Lạc ở đời sống vốn chứa đầy bùn nhơ của khổ đau, bất hạnh và những điều không như ý. Sự nhập thế của đạo Phật ở Ấn Độ mang hình thái truyền thống. Hằng ngày, các nhà sư phải vào thành thị, làng xã để tạo cơ hội tiếp xúc với người phàm tục. Sự tương tác hai chiều này khiến cả hai bên cùng được lợi lạc. Người xuất gia không phải bận tâm về bát cơm manh áo, đời sống kinh tế hằng ngày. Nhờ đó, giá trị tâm linh, trình độ tâm linh, sự phát triển tâm linh của họ ngày càng được mở rộng và nâng cao. Bản chất của sự mở rộng tâm linh này trở thành một ruộng phúc cho người tại gia gieo trồng, vun bón, tưới đẫm giá trị an vui hạnh phúc ở hiện tại và tương lai cho bản thân và gia đình. Trong suy nghĩ của các nhà sư, theo truyền thống Phật dạy tại Ấn Độ không hề có những vướng bận.

Cách thức nhập thế trong thời hiện đại có phần khác biệt so với thời của Đức Phật. Chẳng hạn, các nhà sư của Nhật Bản có thể là các nhà kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội, nghệ thuật, từ thiện,… Hầu như lĩnh vực nào cũng có sự dấn thân của các nhà sư. Dĩ nhiên, công cuộc dấn thân đó sẽ làm hình ảnh Phật pháp và thông điệp từ bi cứu khổ của Đức Phật được lan toả tới tận ngóc ngách của cuộc đời. Nhưng ngược lại, nó cũng có những điều bất cập. Khi một nhà sư dấn thân làm kinh tế thì chắc chắn cũng phải theo quy luật cung cầu của nền kinh tế thị trường, phải hiểu rõ được chất liệu của sản phẩm, thị hiếu của khách hàng, giá trị mẫu mã, giá trị lợi lạc trong kinh doanh, thời điểm đầu tư và bán hàng ra thị trường,… Nếu không tuân theo những điều đó thì việc làm kinh tế sẽ không mang lại giá trị lợi lạc theo công thức “phi thương bất phú”. Bởi trên thực tế, việc đầu tư thiếu phương pháp có thể mất luôn cả vốn lẫn lời. Do vậy, khi dấn thân vào làm kinh tế, nhà sư phải tu bồi đời sống đạo đức và phạm hạnh của mình nhiều hơn nữa. Bằng không, lúc nào trong đầu họ cũng chỉ toàn bê tông cốt thép, tiền bạc,… tức là bị “bê tông hoá”, “cốt thép hoá”, “kinh tế hoá”,… dễ dàng giống như những người tại gia.

Như vậy, các nhà sư thời Đức Phật có phần thuận lợi bởi quan niệm truyền thống văn hoá của Ấn Độ đã hỗ trợ đời sống tinh thần và tâm linh của người xuất gia tốt hơn thời hiện đại. Chính vì thế, sau những bài kinh rất ngắn, số lượng người chứng được thánh quả nhiều gấp bội lần so với những gì được giảng dạy trong thời hiện đại. Người nghe có thể mở mang tâm trí, sảng khoái, ứng dụng hành trì nhưng kết quả của sự chứng đắc chẳng là bao nếu không muốn nói là rất hiếm có tình huống diễn ra như một sự vật.

Khi đạo Phật có mặt tại Trung Quốc, sự nhập thế đã diễn ra theo cách là ảnh hưởng trực tiếp như sự tương tác với nền văn hoá năng động của cư dân đất nước này. Tại Trung Hoa, nền văn hoá và chính thể ảnh hưởng Nho giáo rất mạnh. Họ có những nỗ lực tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Tề gia là nghệ thuật quản trị gia đình. Trị quốc là nghệ thuật quản trị quốc gia. Bình thiên hạ là nghệ thuật quản trị liên minh các quốc gia, gắn liền với an ninh, hoà bình và thịnh trị của thế giới. Tính chất năng động hội nhập vào xã hội đó đã buộc đạo Phật phải tương thích theo cách thức “tuỳ duyên bất biến” như là phương châm nhập thế cần thiết cho cộng đồng và xã hội. Các nhà sư Trung Hoa đã nhanh chóng thay thế hình thái khất thực như một cơ hội tương tác tâm linh với người tại gia hằng ngày vào mỗi buổi sáng trở thành sự dấn thân vào các chức nghiệp và nghề nghiệp khác nhau.

MỘT NGÀY KHÔNG LÀM…

Tổ Quy Sơn của Trung Quốc đã đưa ra châm ngôn “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”. Câu châm ngôn này có hai góc độ và lớp ý nghĩa khác nhau.

Góc độ và lớp ý nghĩa thứ nhất, tức nghĩa đen của câu châm ngôn này ở chỗ, các nhà sư cần phải lao động, canh tác, cày cấy,… nói chung là nền kinh tế tự túc để tránh và loại trừ những nhận thức và đánh giá sai lầm rằng, bản chất của nhà sư là con mọt và gánh nặng của xã hội, của cộng đồng, trốn tránh nghĩa vụ quân sự quốc gia, không dấn thân, không quan tâm, không màng tới những gì diễn ra trong cộng đồng, xã hội theo cách lên án nặng nề, có phần thành kiến của Nho giáo và những người theo truyền thống văn hoá của chính thể này. Như vậy, các nhà sư không cần phải nhận sự viện trợ phát tâm cúng dường của cộng đồng, xã hội mà vẫn có thể tồn tại và thông qua sự tồn tại lành mạnh này, góp phần truyền bá tư tưởng tâm linh và đạo đức của Đức Phật cho những người có duyên. Nhà sư từ truyền thống văn hoá tâm linh ở Ấn Độ chỉ lo chăm sóc về tinh thần cho bản thân và tha nhân đã trở thành người bao luôn cả phần dấn thân nhập thế ở chỗ, giảm bớt phần chia sẻ vật chất của người tại gia phải chu cấp cho đời sống vật thực hằng ngày của người xuất gia.

Góc độ và lớp ý nghĩa thứ hai của câu châm ngôn là biểu tượng và ý nghĩa triết lý. Động tác hay công việc, hiểu theo góc độ tâm linh của đạo Phật, không chỉ đơn thuần giới hạn trong các hoạt động chân tay mà còn ở sự nỗ lực, dấn thân hành trì, đi vào xã hội, có mặt mọi nơi, mọi ngõ ngách, mọi nỗi khổ niềm đau cuộc đời để thông qua đó, tạo ra một nhịp cầu cảm thông. Do đó, con đường hoá độ những người hữu duyên được thiết lập dễ dàng.

Trong Kinh A Di Đà có một câu mà có lẽ các Phật tử đều thuộc lòng là; “Sáng sớm, cư dân Thánh ở thế giới Tây Phương đều đi nhặt các loại hoa rồi bay đi khắp mười phương cõi cúng dường vô số Đức Phật, sau đó trở về lại quốc gia Tây Phương, ăn xong rồi từng bước kinh hành, nhẹ gót thảnh thơi.”

Hiểu các câu kinh Phật giáo Đại Thừa theo góc độ biểu tượng và triết lý mới thấy hết được chiều sâu nhập thế mà tinh thần và truyền thống này khuyến tấn việc phải làm. Nếu chỉ hiểu theo nghĩa đen thì nghĩa là, các bậc bất thối chuyển về đạo đức và tu tập, các hành giả ở Tây Phương Cực Lạc chỉ làm một việc đơn giản là mỗi ngày đi nhặt các loài hoa ở vườn, ở rừng rồi đem đi khắp mười phương cúng dường chư Phật. Công việc đó ở cõi Ta Bà này cũng vẫn làm được, chỉ cần có một chút tiền dành dụm, chia sẻ là có thể mua được rất nhiều loại hoa và đem dâng cúng ở nhiều chùa khác nhau.

Như vậy, ở đây cần phải hiểu hoa tượng trưng cho tất cả giá trị lương tâm đạo đức, sự dấn thân nhập thế vào cuộc đời. Mười phương Phật chỉ chung số lượng thế giới rất nhiều. Số 10 là con số nhiều và trọn vẹn. Có nghĩa, các cư dân Tây Phương không phải mỗi ngày chỉ biết ngồi niệm Phật, tụng kinh, sám bái để tinh thần và tâm linh được thảnh thơi, an lạc, mà sáng nào cũng phải dành phần nhập thế cho cuộc đời ở mười phương cõi khác nhau.

Sự nhập thế của các Ngài ở đây không phải là bay bằng phi thuyền hay các đĩa bay không gian, mà bay bằng phương tiện thần thông của bản thân mình. Tức là tiết kiệm phúc báu một cách tối đa để dành dụm các giá trị đó cho việc nhập thế, đem lại lợi lạc cho cộng đồng. Mỗi chức nghiệp là một loại hoa nếu chức nghiệp đó đem lại giá trị nhập thế, giá trị phục vụ. Nói cách khác, đạo Phật thông qua Kinh A Di Đà dạy con người tinh thần tôn trọng các giá trị lao động chính đáng, chính mệnh, chính nghiệp khác nhau. Các loại hình lao động đó sẽ tạo ra hương thơm của sự an vui và hạnh phúc cho cuộc đời.

Điều rất đáng quan tâm trong chủ nghĩa nhập thế này là khi đến quốc gia này, thế giới kia thực hành nhiều Phật sự khác nhau nhưng không ở các khách sạn cấp cao hoặc thấp, mặc dù phúc báu của các Ngài có thể tuỳ theo sở nguyện được thể hiện nhưng không bao giờ sử dụng phúc báu một cách vô ích. Trong Kinh A Di Đà mô tả động tác sau khi hoàn tất sự nhập thế mang lại sự an vui lợi lạc cho cuộc đời, các cư dân thánh giả Tịnh Độ trở về lại quốc gia và phạn thực kinh hành, nghĩa là ăn cơm trong trạng thái tỉnh thức, ăn xong nhưng không nằm ngủ liền mà đi bách bộ trong trạng thái thiền quán, chánh niệm và tỉnh thức. Do đó, tất cả những chứng bệnh béo phì, tim mạch, gan thận, cơ bắp, nhức mỏi,… được tan biến.

Tất cả những điều đó là một chủ nghĩa nhập thế năng động và tích cực. Tức là tiết kiệm phúc báu một cách tối đa, để dành phần chi tiêu phúc báu đó cho các chúng sinh, cho những người thiếu phúc báu hơn bản thân mình. Do vậy, ai phát nguyện sinh về thế giới Tây Phương Tịnh Độ đều phải hun đúc tinh thần này. Tất cả những gì mình làm cần phải hồi hướng công đức, bởi vì, giá trị của sự lợi lạc đó không phải mưu cầu cho bản thân mà là cho tất cả mọi người.

Từ tinh thần này, câu tuyên bố của Tổ Quy Sơn có ý nghĩa tâm linh và triết lý rất cao. “Một ngày không làm ngày đó không ăn”, tức là ngày nào không tạo ra phúc báu, không nhập thế, không dấn thân, không phục vụ xã hội, không chia sẻ với cộng đồng,… nhất là với những con người đang rất cần đến tình thương, chăm sóc,… ngày hôm đó không xứng đáng để đưa vật thực vào trong cơ thể như một hình thái của chủ nghĩa hưởng thụ vật dụng.

Bản chất của đời sống theo đạo Phật không phải là hưởng thụ, mà thông qua sự có mặt với sức khoẻ mang lại sự lợi lạc giá trị đóng góp cho cuộc đời. Nên nhớ, dù các tỉ phú ở Phương Tây có tiền rừng bạc biển nhưng mỗi ngày cũng chỉ ăn ba bữa. Thậm chí, người giàu nhiều chừng nào thì ăn ít chừng đó, còn hơn cả những người nghèo khó vì họ phải lo giữ hình thái thân thể, nét đẹp,… Đừng tưởng những người giàu có thì một ngày ngủ ở năm, bảy cái giường khác nhau. Ngủ như vậy sẽ bị mất ngủ thêm. Họ có thể có hàng trăm căn nhà, trong mỗi căn nhà có nhiều phòng và mỗi phòng có nhiều giường nhưng mỗi đêm cũng chỉ ngủ nghỉ ở một giường duy nhất. Nói cách khác, dù giàu hay nghèo, nhu cầu ăn uống vật thực, ngủ nghỉ, sinh hoạt hằng ngày cũng chỉ bấy nhiêu đó là đủ. Còn quá hơn mức độ cần thiết thì trở thành xa xỉ, dư thừa. Hiểu điều này để không biến cuộc đời thành chủ nghĩa hưởng thụ.

Trong mười hạnh của Bồ tát Phổ Hiền có phần tán dương công đức và tuỳ hỉ công đức. Trong Kinh A Di Đà, Đức Phật Thích Ca tán thán Đức Phật A Di Đà đã làm được những việc khó làm, mười phương Phật lại tán thán Đức Phật Thích Ca đã làm được những việc khó làm trong cõi đời ngũ trược ác thể này mà thành được đạo quả.

Nhưng sau khi thành tựu, Đức Phật Thích Ca không hưởng Niết Bàn an lạc cho bản thân, mà dấn thân hoá độ cho rất nhiều người khó hoá độ. Những người đó từng rơi vào lưới khổ đau, lún sâu trong bùn dơ bất hạnh. Đức Phật Thích Ca cứu ra khỏi, họ lại rơi vào khổ đau lần thứ hai, ba, bốn,… Ngài vác hộ một phần, đôi khi vác luôn tất cả nỗi khổ niềm đau của họ, thế mà họ vẫn cứ tái diễn nỗi khổ niềm đau. Đó là việc rất khó làm.

Bản thân chư Phật không cần đến sự tán dương của người khác, nhưng tất cả những việc làm lành chính đáng cần phải được tán dương, bởi vì, đó là một nghệ thuật mời gọi những người khác hãy dấn thân vào con đường tương tự và đó như một tuyên ngôn chân lý rằng, tất cả những gì có giá trị cho tha nhân, cuộc đời, cộng đồng thì đều được tán dương như một quy luật tất yếu của nhân và quả. Do vậy, cần phải noi gương theo hạnh tán dương này để ca ngợi và mở rộng phạm vi biên cương, bờ cõi của chủ nghĩa nhập thế liên hệ tới những gì Đức Phật dạy, nhằm mở rộng tấm lòng từ bi của mình đối với cộng đồng và xã hội.

“Một ngày không ăn” có nghĩa ngày đó không đặt nặng về chủ nghĩa tiêu thụ. Bởi vì, giá trị vật thực của nền kinh tế Phương Tây như sỏi và đá. Nền văn hoá tâm minh của Châu Á nói chung, đạo Phật nói riêng, có giá trị gấp trăm nghìn lần nền văn hóa vật thực hay vật dụng của Phương Tây.

Như một quy luật mâu thuẫn nội tại về tâm lý, con người có khuynh hướng tìm kiếm những gì chưa có. Trong sự tìm kiếm đó, nếu người Châu Á nói chung và người Phật tử nói riêng, đánh mất đi giá trị tâm linh vốn có để chạy theo chủ nghĩa vật thực của Phương Tây thì đã rơi vào sai lầm từ cách thức đặt vấn đề và nỗ lực của nó.

Chủ nghĩa và giá trị tiêu thụ vật thực của Phương Tây là sỏi và đá. Khi người Phương Tây quá đầy đủ về bát cơm manh áo, phương diện đời sống vật chất rồi thì họ bắt đầu có trạng thái ngán ngẩm những thứ họ đã đầy đủ. Cái họ thiếu là giá trị tinh thần và tâm linh nên rất nhiều người giàu sang phú quý và có vai trò, vị trí xã hội đã từ bỏ tôn giáo của họ vì không đáp ứng được những nhu cầu cao hơn về phương diện tâm linh. Họ tìm kiếm giá trị tâm linh ở Châu Á, đặc biệt là của đạo Phật. Nghĩa là họ bỏ sỏi đá, tìm đến kim cương. Trong khi đó, rất nhiều người Châu Á, bao gồm cả những Phật tử, trong tiến trình vượt biên tìm một mảnh đất hứa của tự do ở Phương Tây đã từ bỏ tôn giáo của mình là đạo Phật để theo Tin Lành, Công giáo… vì những lời hứa hẹn “theo đạo có gạo mà ăn”. Có nghĩa, người đó đã từ bỏ kim cương để tìm kiếm lấy sỏi và đá.

Lợi và hại, được và mất, lâu và mau, hiện tại và tương lai, mình và người chính là các phương châm và thước đo để có được sự sáng suốt nhằm lựa chọn giá trị nào thực sự cần thiết cho hạnh phúc và an vui của con người. Giá trị chủ nghĩa vật thực làm và ăn thường đánh mất con người trong chủ nghĩa phóng thể mà cái tôi của con người được đưa lên ở mức độ cao quá, con người đánh rơi mất chính mình. Nhiều sự đánh rơi đó làm cho giá trị đạo đức vốn có trong quá khứ của một con người bị mất đi thông qua chủ nghĩa tiêu thụ thấp kém. Bởi vậy, giá trị của an vui hạnh phúc nằm ở mức độ cảm xúc được chuyển hoá chứ không nằm ở các phương tiện vật chất có được của con người.

Mặc dù đạo Phật có nói, giá trị kinh tế, sự giàu sang phú quý rất cần cho sự mưu cầu an vui hạnh phúc nhưng nó là phương tiện cần thiết chứ không phải tất yếu. Sử dụng các phương tiện đó một cách nghệ thuật và đúng phương pháp thì con người duy trì được an vui thông qua việc làm lành ở mức độ lớn hơn, bởi vì người nghèo khó làm sao có thể dấn thân nhập thế giúp người, giúp đời với bình diện rộng và giá trị cao. Nhà Phật không dạy con người đánh mất giá trị an vui hạnh phúc chạy theo chủ nghĩa tiêu thụ vật dụng.

“Một ngày không làm” có nghĩa là một ngày không tu, không tạo phúc, không mở công đức, không dấn thân, không phục vụ,… thì ngày đó không xứng đáng tiêu xài. Lấy phương châm này làm phương châm nhập thế thì mỗi động tác đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, nói, im lặng, thức, ngủ, động và tĩnh,… đều có thể mang lại lợi lạc cho bản thân và những người khác.

Đạo Phật nhập thế ở Trung Hoa lấy phương châm đó làm con đường dấn thân, đã thoát khỏi những nanh vuốt phê bình rất cực đoan và có thành kiến của những người theo Nho giáo. Nhà sư là cây tầm gửi, là những con mọt của xã hội, là gánh nặng của cuộc đời, trốn tránh nghĩa vụ quân sự, là đại ẩn tiểu ẩn, là bi quan yếm thế.

Ở đây, khuynh hướng nhập thế mang lại lợi lạc cho người khác nhưng con đường và sự nhập thế đó lệ thuộc vào sự tương thích với bối cảnh văn hoá trong từng chính thể liên hệ tới từng giai đoạn lịch sử khác nhau.

HOÁ THÂN VÀ VÔ NGẠI

Phật giáo Đại Thừa qua hạnh nguyện 32 ứng thân của Bồ tát Quán Thế Âm dạy cách thức, không quan trọng về chủ nghĩa hình thức mà đặt nặng về giá trị nội dung. Nghĩa là, con mèo có thể màu đen, màu trắng, màu tam thể,… nhưng tính cách đồng nhất và bản chất chung của nó là bắt chuột.

Cách nhập thế của đạo Phật có thể mang danh hiệu nhiều giáo hội, tông môn, danh xưng, pháp phái, con đường hành trì khác nhau nhưng mục tiêu của các sự hành trì này nếu bỏ rời bồ đề tâm, sự giác ngộ an vui hạnh phúc cho cuộc đời thì hình thái nhập thế đạo Phật đó không đúng theo cách Đức Phật đã dạy.

Phải mạnh dạn học theo những hạnh nguyện và hành trì của Bồ tát Quán Thế Âm bằng những lời phát nguyện có thể làm chao đảo, đảo lộn tất cả những cấu trúc nhập thế vốn có trong giai đoạn lúc bấy giờ của Ngài. Nếu có phải mang thân phận một Bà La Môn mà giúp cho cuộc đời được an vui, con người được giải thoát thì tôi (Bồ tát Quán Thế Âm) sẵn sàng làm việc này.

Chính thể và ý thức hệ của Bà La Môn giáo đặt nặng chủ nghĩa phân biệt giới tính, giai cấp trên danh nghĩa và nhân danh Thượng Đế để phục vụ lợi ích cho thiểu số người, còn đại đa số còn lại phải ngậm đắng nuốt cay. Do đó, nó đi ngược lại với quyền lợi, hạnh phúc của mọi người. Dĩ nhiên, đó là một đối tượng được chuyển hoá của đạo Phật. Bởi thế, Bồ tát Quán Thế Âm sẵn sàng phát nguyện làm thân Bà La Môn để mang lại lợi lạc cho người khác. Nghĩa là, đôi lúc về hình thái, Ngài có thể ứng thân như một người khác đạo.

Vì tình trạng loại trừ và tẩy não văn hoá đối với những điều khác với những kiến thức về tôn giáo mà người ta được gieo trồng từ thuở nhỏ đã được mặc nhiên nhân thành chân lý. Dù khi lớn lên, người ta được học kiến thức khoa học kỹ thuật, hiểu biết sâu rộng nhưng vẫn không thể nào bỏ tất cả những chân lý mà bản chất chỉ là mê tín dị đoan được gieo trồng từ nhiều năm về trước.

Do vậy, Bồ tát Quán Thế Âm phải làm công việc là mang hình thái của tôn giáo khác nhưng nội dung giảng dạy của Ngài hoàn toàn là đạo Phật. Ở đây có nghĩa, nhập thế mang hình thái không quan trọng về hình thức, mà đặt trọng tâm vào nội dung. Nội dung đó được chuyển tải bằng ngôn ngữ của tôn giáo đó chứ không phải bằng ngôn ngữ của đạo Phật, để những người của tôn giáo khác không bị dị ứng.

Bản chất của dị ứng văn hoá rất phức tạp, phức tạp hơn tất cả các loại hình kháng thể trong cơ thể con người để đẩy vật lạ ra khỏi cấu trúc cơ thể và sự sống của nó. Nếu không đủ sức đẩy ra bên ngoài thì phải tạo ra phản ứng kháng nhu, để sự lây lan về những chất tố không tốt cho sức khoẻ bị giới hạn ở phạm vi nhất định nào đó. Sự loại trừ các giá trị tâm linh và văn hoá khác với những gì mà người ta đã được học và lớn lên trong một môi trường tôn giáo nào đó còn phức tạp hơn nhiều.

Ở đây, chủ nghĩa nhập thế của Bồ tát Quán Thế Âm nhắm vào tâm thức và giới hạn căn tính của con người với những chấp mắc, vướng lụy khác nhau. Cho nên vấn đề là ở chỗ, nạp vào trong nội dung hay trong hình thái tôn giáo vốn có nội dung hoàn toàn mới của đạo Phật bằng ngôn ngữ hằng ngày, ngôn ngữ chức nghiệp, ngôn ngữ ngành nghề,… ngôn ngữ mà người trong tôn giáo khác rất gần gũi, thân quen như một phần của sự sống.

Theo tinh thần này, Phật tử có thể là một nhà hoằng pháp, một nhà nhập thế, một nhà mang thông điệp của Đức Phật đến cho gia đình, người thân và các mối quan hệ của mình. Có nghĩa, người Phật tử cảm nhận được sâu sắc lời hay ý đạo của đạo Phật thông qua các bản kinh hay sự học hỏi được từ các giảng đường trong các buổi giảng pháp, pháp thoại,…

Dĩ nhiên, không nhất thiết phải lặp lại nguyên văn những điều đã cảm nhận được nhưng có thể sử dụng kinh nghiệm của bản thân, với tư cách là một người cha, người mẹ, là chồng, vợ, anh, em, nhà giáo, người làm nghệ thuật, văn hoá,… Nghĩa là, bằng ngôn ngữ riêng của mình và thấy căn tính, trình độ riêng của từng người thân ở mức độ nào thì chuyển tải nội dung Phật pháp thông qua ngôn ngữ, căn tính tương ứng thì sẽ giúp người đó thức tỉnh.

Sử dụng ngôn ngữ Phật học cho những người chưa hiểu Phật học sẽ trở thành trở ngại cho họ, làm cho họ khó có thể hiểu được đạo Phật. Dù sao, những người thường có mặt ở các giảng đường nghe giảng, nghe băng, các khoá tu, các thời tụng kinh, thường đọc sách, tham kiến nhiều trang web về đạo Phật,… nên đã hiểu tương đối về đạo Phật, và có thể tiếp nhận dễ dàng các thuật ngữ, các từ ngữ mới. Trong khi đó, người thân và những người xung quanh mà chưa biết về đạo Phật có các quan điểm khác hoặc thậm chí đối nghịch hoàn toàn.

Do đó, nếu không nhập thế để chuyển tải thông điệp của Đức Phật đến với họ thì hai người cùng thương yêu, chăm sóc là lo lắng cho nhau nhưng lại có hai cách nhìn đối lập về con người tâm linh của nhau. Vì vậy, trạng thái cô đơn và không đồng đẳng vẫn tiếp tục xuất hiện, kéo dài làm cho mối quan hệ tình thân đó đôi lúc bị khập khiễng và gặp rất nhiều giới hạn. Bởi thế, phải dấn thân mang hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm trên nền tảng hiểu biết, cảm thông, lắng nghe không phê bình, lắng nghe trong chia sẻ, trong tha thứ, đóng góp và để giúp người khác cùng đạt được như mình. Từ đó, mang thông điệp của Đức Phật đến với cuộc đời, xã hội.

Từ nguyên lý căn bản nhất ở trên, chúng ta bắt đầu đi vào hai loại hình nhập thế của đạo Phật là nhập thế chính trị và nhập thế xã hội.

NHẬP THẾ CHÍNH TRỊ

Để hiểu rõ tinh thần nhập thế về chính trị của đạo Phật, cần phải xác quyết rõ khái niệm chính trị là nghệ thuật quản trị quốc gia về phương diện an ninh, an sinh xã hội chứ không phải là điều xấu, mưu mô xảo quyệt như người ta đã hiểu theo nghĩa rất tiêu cực, phiến diện của thuật ngữ này.

Nhập thế về chính trị là một nghệ thuật mà những Phật tử tại gia cần phải có khi họ hiện diện trong xã hội này với tư cách là vua, chủ tịch nước, tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng, hoặc là quan chức của triều đình, chính phủ trong một giai đoạn lịch sử nào đó. Với vai trò, vị trí của mình có cộng với uy tín và đời sống đạo đức của bản thân, những gì người Phật tử đó tuyên ngôn và đóng góp cho xã hội từ nội dung, tinh thần của đạo Phật sẽ được những người có thiện cảm với họ chấp nhận và hưởng ứng theo.

Chẳng hạn như cư sĩ Ambekar, tiến sĩ luật học, tiến sĩ triết học là người xuất thân từ giai cấp thấp nhất của xã hội Ấn Độ đã trở thành Bộ trưởng Bộ Tư pháp đầu tiên của Ấn Độ sau thời kỳ Anh trị. Ông nghiên cứu các tôn giáo khác nhau tại Ấn Độ và cuối cùng chọn đạo Phật làm con đường tâm linh để giải phóng thân phận “bèo dạt mây trôi” của bản thân mình. Trong lần quy y, ông đã vận động được hàng trăm nghìn người từ bỏ Ấn Độ giáo để trở thành Phật tử.

Từ một người phàm, cư sĩ Ambekar trở thành một vị Bồ tát sống là vì ông đã biết vận dụng vai trò, vị trí chính trị mà ông có. Ông đã nhiều lần đối lập với tư tưởng của Mahatma Gandhi, người đã có công rất nhiều trong chủ nghĩa bất bạo động để giành lại độc lập cho Ấn Độ.

Sự khác nhau giữa hai người ở chỗ, nếu Mahatma Gandhi muốn dân tộc Ấn Độ được độc lập khỏi ách thống trị của người nước ngoài thì Ambekar ngược lại, trên quan điểm của Phật giáo, ông muốn cho sự giải phóng đó không chỉ ở quốc gia này với quốc gia nọ, mà còn cả những người trong cùng một quốc gia với nhau. Nghĩa là, phải xoá sổ chủ nghĩa giai cấp và sự phân biệt đối xử giới tính. Có được độc lập khỏi ách thống trị của một quốc gia khác mà không xoá sổ chủ nghĩa giai cấp (gồm 4 thành phần), thì đại đa số người dân trong nước vẫn phải chấp nhận hình thái đau khổ khác như kiểu tránh “vỏ dưa” của Anh trị thì gặp “vỏ dừa” của Bà La Môn trị. Có nghĩa, nỗi khổ đau được thay hình đổi dạng, đầu thai và biểu hiện dưới một hình thức mới. Như vậy, nỗi khổ đau vẫn tiếp tục diễn ra. Cho nên, Ambekar không được các nhà chính trị theo chủ nghĩa Ấn Độ giáo ủng hộ, dù con đường và chủ trương nhập thế của ông rất đúng, rất hay.

Một người có vai trò, vị trí trong xã hội tuyên dương và chủ xướng về con đường tốt thì người ta sẽ hưởng ứng nhiều hơn. Vị vua Thái Lan ngày nay và Đức vua Bhul Bhumibol, 80 tuổi, trải qua 60 năm trị vì là vị vua có thời gian trị vì lâu nhất trên thế giới hiện nay đã được Liên Hợp Quốc phong tặng danh hiệu đóng góp an ninh xã hội cho quốc gia và thế giới nhiều nhất so với các vị vua, hoàng hậu, nữ hoàng.

Vị vua này có được danh hiệu xứng đáng đó là vì, với tư cách một vị vua theo tinh thần chuyển luân thánh vương mà Đức Phật đã dạy trong kinh, ông kêu gọi những người có tiền ở cạnh bên mình mở rộng vai trò và các hoạt động từ thiện xã hội. Ông rất thông thái ở chỗ, thỉnh thoảng ông có cớ yêu cầu mẹ ruột đi nơi này nơi kia và ông phát nguyện, bất cứ lúc nào, những nơi hẻo lánh mà mẹ ông đi tới thì con đường mới sẽ được thiết lập, các hoạt động từ thiện sẽ được mở bày giúp cho cộng đồng và dân cư bất hạnh ở đó có cơ hội sống cuộc sống an vui, hạnh phúc.

Trong suốt cuộc đời 60 năm trị vì, ông đã làm rất nhiều các công trình từ thiện xã hội. Dĩ nhiên, bản thân ông không thể đủ tiền làm nhưng nhờ vào uy tín, tư cách đạo đức, tư cách của người Phật tử theo truyền thống Chuyển Luân Thánh Vương mà ông đã khiến rất nhiều người hưởng ứng theo con đường từ thiện này.

Do vậy, nhập thế về phương diện chính trị đối với người tại gia có thể là dấn thân vào tất cả những vai trò chính trị như một nghệ thuật quản trị quốc gia theo chính nghiệp, chính mệnh, chính tư duy mà Đức Phật dạy trong bát chánh đạo để loại trừ những phần tử tiêu cực, tham nhũng và làm cho cộng đồng, xã hội ngày càng thăng hoa, tiến hoá nhiều hơn, có tự do, an vui, hạnh phúc,…

Đối với các nhà sư, việc nhập thế về chính trị còn được thể hiện ở phương diện là trở thành cố vấn cho vua, tức làm Quốc sư, hay cố vấn cho những nhà chính trị, ngoại giao. Vì, tinh thần sáng suốt và sự nhập thế của các Ngài nằm ở lòng từ bi, không muốn nhìn thấy hai quốc gia đã từng hận thù với nhau trong quá khứ trở thành kẻ thù của nhau ở hiện tại.

Con đường phản chiến, con đường hoà bình của các nhà sư về mặt chính trị đã làm cho thế giới này vắng bặt sự thanh toán, đổ nát, tang thương, chết chóc; hận thù do vậy sẽ không còn ở hiện tại. Do vậy, các nhà sư càng nhập thế về chính trị nhiều chừng nào thì thế giới này càng có hoà bình, thịnh trị, an vui, hạnh phúc chừng đó. Tinh thần của đạo Phật là phản chiến nên dù bất cứ nơi đâu, quốc gia nào thì lời kêu gọi của các nhà sư vẫn là hoà bình, tình thương và tha thứ, mong sao cho các quốc gia từng là kẻ thù của nhau bỏ quên đi sự hận thù đó.

Cái gốc của cái khổ niềm đau trong quá khứ cần phải khoá lại ở quá khứ, trả lại hiện tại cho hiện tại, đừng bao giờ nhân nhầm nỗi khổ niềm đau trong quá khứ với bất hạnh của thế hệ người đi trước đối với thế hệ hiện tại vốn không hề gắn liền trực tiếp với những điều đã diễn ra giữa hai quốc gia. Cho nên, các nhà lãnh đạo của quốc gia sáng suốt, hiểu được tinh thần của đạo Phật cần vận động toàn dân, toàn thế giới tiến đến phía trước để thiết lập tình hữu nghị, thân hữu vì lợi ích chung của hai dân tộc.

Với các quốc gia từng có những hận thù chiến tranh thì xoá bỏ hận thù là một sự thách đố. Biến cố năm 1975 đã làm cho người Việt Nam có mặt khắp nơi trên thế giới. Một số người gắn liền với ý thức hệ chính trị trước năm 1975 và một số người ủng hộ ý thức hệ chính trị sau năm 1975. Hai khuynh hướng này khiến cho ngày càng xa nhau, ngày càng khác biệt nhau và không khéo sẽ thành kẻ thù của nhau.

Con đường nhập thế về phương diện chính trị của đạo Phật buộc các nhà sư và các Phật tử khuyến tấn hai con đường ngày càng trở thành gần nhau, ngồi chung lại, hội kiến vì lợi ích chung của nhau. Làm được điều đó là điều rất khó nhưng đem lại phúc lợi cho nhiều người. Cuộc chiến tranh đã làm hai bên quay lưng lại với nhau. Khoảng cách của sự quay lưng này trải dài bằng số xác chết của những người thân và các chiến sĩ ở hai bên.

Chủ nghĩa yêu nước được khơi mào và mời gọi người ta tiếp tục dấn thân ngã xuống để bảo vệ biên cương, bờ cõi. Bên nào cũng nhân danh chân lý, yêu nước, tình thương và chủ nghĩa phục vụ cộng đồng. Do đó, hận thù cứ tiếp tục mở rộng, lan toả, leo thang. Tinh thần nhập thế của Phật giáo nằm ở chỗ, khuyến tấn hai bên cùng xoay mặt lại với nhau, ngày càng gần nhau.

Muốn vậy, hai bên phải có bản lĩnh của lòng từ bi để vượt qua xác chết của những người thân của mình, xoá bỏ hận thù và trở thành người thân của nhau trong hiện tại. Bởi vậy, rất khó khi những người thân nằm xuống bằng tinh thần chủ nghĩa yêu nước. Thế hệ của nhiều giai đoạn lịch sử đã trôi qua từng gắn liền với nhiều hận thù, trả đũa và điều đó được gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Trong khi đó, đạo Phật dạy bỏ hận thù, tháo oan kết, gỡ những nút, đi ngược lại hoàn toàn với các chủ nghĩa và chính thể.

Kinh Dược Sư đã dạy chủ nghĩa nhập thế về chính trị rất hay, “giải kiết, giải kiết, giải oan kiết”. Chỉ một câu với bảy từ mà có ba động từ “giải” là mở nút, mở trói. Phải mở vì hận thù, oan trái được nối kết không phải ở một đời mà là nhiều đời, trong một đời thì được nối kết bằng mấy mươi năm với những xác chết, tang thương, sự tàn phá của chiến tranh, hận thù chồng chất từ lớp này sang lớp khác nên người ta không dễ dàng mở, giả sử có nỗ lực mở cũng chưa chắc thành công. Các cuộc hoà đàm trên thế giới như hoà đàm sáu bên giữa Bắc Triều Tiên và các nước liên quan đến quyền lực của vũ khí hạt nhân nguyên tử cũng như về chính trị và kinh tế thế giới đã bị khép lại rất nhiều lần. Đạo Phật dạy, đừng thất vọng. “Giải kiết” là tháo gỡ những oan kiết, oan trái, ân oán, hận thù của nhau. Nếu không thành công lần đầu thì tiếp tục nỗ lực lần thứ hai, lần thứ ba,… cho đến lúc nút đó đã được mở một cách trọn vẹn. Cho nên, bản chất nhập thế của đạo Phật về chính trị ngoài hoà bình còn mang lại giá trị công lý, tự do và bình đẳng cho mọi người, xã hội.

Ở các quốc gia có chiến tranh dẫn đến thuộc địa, công lý, bình đẳng, phúc lợi xã hội không bao giờ có, có chăng chỉ phục vụ cho thiểu số mà thôi. Ở những quốc gia mà người lãnh đạo cầm cân nảy mực không có tinh thần yêu dân như các vị chuyển luân thánh vương được Đức Phật dạy trong kinh điển thì nỗi khổ niềm đau có mặt khắp mọi nơi, mọi chốn.

Một chính sách sai lầm của một quốc gia có thể đem lại nỗi khổ niềm đau nhiều năm, cho tới lúc chính thể đó không còn có mặt trên cuộc đời nữa thì vẫn tiếp tục ảnh hưởng tới vài chục năm sau khi chính thể đó đã được thiết lập. Do vậy, những người cầm cân nảy mực nếu là Phật tử thì cần phải hiểu rõ vấn đề này, để tinh thần nhập thế đặt trọng tâm vào sự yêu chuộng hoà bình, sự sống, bình đẳng, tự do, phúc lợi xã hội của mọi người được đề cao và tán dương.

Các nhà sư phải làm công tác phát huy tiềm năng lớn nhất của hoà bình bằng nền tảng của lòng từ bi trên các hoạt động phản chiến. Tức là, không tán đồng chiến tranh, kêu gọi xoá bỏ hận thù. Ngay cả trong những tình huống khủng bố, đạo Phật vẫn khuyến tấn các quốc gia bị rơi vào tình trạng khủng bố hãy xem xét lại nguyên nhân sâu xa nào dẫn đến tình trạng hận thù trả đũa nhau như vậy, chứ dùng một hình thức khủng bố lớn hơn để khống chế khủng bố nhỏ hơn là phản ứng cưỡng lực. Bản chất của cưỡng lực là lòng sân. Mà lòng sân nào cũng mang lại phản ứng nghiệp báo của nó nên nó có thể dập tắt ở hiện tại hoặc chìm trong một khoảng thời gian nhất định nhưng sau đó lại sinh sôi nảy nở ở những hình thái khác. Vì thế, đó chỉ là việc chữa lửa chứ không phải là giải pháp.

NHẬP THẾ XÃ HỘI

Học thuyết nhập thế về xã hội của đạo Phật gắn liền với các dịch vụ xã hội qua các hoạt động từ thiện và Đức Phật đã dạy với các học thuyết bố thí và cúng dường. Bố thí và cúng dường được Đức Phật dạy từ kinh điển Pāli tới kinh điển Đại Thừa, đến học thuyết Bồ tát đạo và được xem như là nhịp cầu quan trọng bậc nhất. Bố thí xong mới tới trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ.

Cần có bố thí đi đầu vì nó là nhịp cầu thiết lập tình thân thương, tình hữu nghị. Khi tình cảm giữa con người với con người đã được thiết lập thì giá trị của chính pháp, sự kêu gọi đời sống tâm linh mới được hưởng ứng nồng nhiệt và có ý nghĩa nhất.

Nói cách khác, đạo Phật chủ trương, khó có tình huống lắng nghe chính pháp bằng bao tử trống không, rỗng tuếch, vì trong tình trạng đó, bao tử sẽ biểu tình, chống đối những người đam mê chính pháp mà bỏ đi vấn đề sức khoẻ của bản thân mình.

Chính vì thế, Đức Phật dạy, đừng bao giờ rơi vào hai cực đoan hưởng thụ vì nó dẫn đến sự sa đoạ và ép xác, đưa tới sự tàn phá thân thể, nhan sắc, sức khoẻ, bệnh tật và sẽ gây trở ngại cho con đường tiến hoá về đời sống đạo đức và tâm linh.

Vượt lên trên hai thái cực hưởng thụ và ép xác, các hành giả Phật giáo phải tôn trọng đời sống bản thân để nhờ sức khoẻ đó mà con đường nhập thế, dấn thân về chế độ xã hội qua chế độ an sinh mới có thể được thiết lập. Do đó, nếu không thiết lập được lòng từ bi thì khó có thể thiết lập tình thân và tình thương. Khi con người thể hiện lòng từ bi không bao giờ giống với các tôn giáo ở nghệ thuật khuyến dụ, “theo đạo có gạo mà ăn”.

Con đường đến với đạo Phật nếu bắt đầu bằng con đường của Công giáo như vừa nêu thì việc đến với đạo trở thành nhu cầu, mưu cầu đến với đời sống vật thực. Nghĩa là, đến với đạo không bằng thái độ nghiêm túc, hiểu biết, hành trì trên nền tảng mang lại lợi lạc cho bản thân và gia đình.

Đạo Phật không bao giờ đi tìm những linh hồn rơi rớt thông qua nỗi khổ niềm đau và sự bất hạnh do thiên tai, bão tố, lũ lụt, hạn hán, động đất, mất mùa, sóng thần gây ra. Mà đó phải là con đường trải nghiệm bằng tình thương yêu của lòng từ bi, đến với nhau bằng trái tim nối kết với trái tim, tuệ giác giao lưu với tuệ giác, tinh thần gắn liền với tinh thần. Đó là sự nối kết rất tự nhiên và lâu dài.

Con đường từ thiện của Phật giáo có thể đặt nền tảng trên lời nguyện thứ 11 của Đức Phật Dược Sư. Lời nguyện có hai vế. “Thứ nhất, tôi nguyện rằng sau khi thành đạo Vô thượng, bồ đề, giác ngộ và giải thoát, ai bị đói khát, tôi sẽ cho vật thực, ai bị lạnh tôi sẽ cho quần áo, ai bị khổ đau, tôi sẽ cho an vui và hạnh phúc. Thứ hai, sau khi đời sống vật thực và các nhu cầu đời sống căn bản đã đầy đủ rồi mới ban chính pháp nhiệm mầu để giúp chúng sinh thoát khỏi nỗi khổ niềm đau lâu dài.” Vế đầu là phương tiện, nhịp cầu chứ không phải cứu cánh. Vế thứ hai mới thực quan trọng.

Nói cách khác, con đường nhập thế về mặt xã hội của Phật tử không chỉ đơn thuần là sự chia sẻ bát cơm mang áo cho những người đang gặp nghèo khổ và hoàn cảnh khó khăn. Nếu chỉ làm như vậy sẽ tạo ra sự ỷ lại và không bao giờ đủ phương tiện giúp cho tất cả những người lâm vào hoàn cảnh khốn khó, tình trạng ngặt nghèo trong cuộc đời này. Nỗi khổ niềm đau vẫn tiếp tục diễn ra.

Khi làm công tác từ thiện xã hội, Phật tử nhớ đính kèm trong từng phần quà một câu Phật ngôn mà quý vị tâm đắc nhất vì câu đó đã từng cứu mình thoát khỏi đời sống khổ đau. Ví dụ, ai đó đã từng bị khổ đau trong ân oán giang hồ và rất tâm đắc câu nói của Đức Phật trong Kinh Pháp Cú “Hận thù diệt hận thù, đời này không có được. Tình thương xoá hận thù, là định luật muôn đời” thì có thể viết câu châm ngôn đó trong từng phần quà nho nhỏ được gửi cho người khác như một danh ngôn chính pháp, và đề rõ tác giả là Đức Phật, trong Kinh Pháp Cú, câu thứ bao nhiêu,… Hoặc có thể dùng các câu khác tương tự như “Sức khoẻ là gia tài quý báu nhất của mỗi con người”, “Hãy làm phúc, hãy phục vụ chúng sinh vì việc đó là cúng dường Đức Phật thiết thực nhất” v.v…

Có thể chọn lựa hàng loạt các phương châm nhập thế dấn thân về xã hội và những câu nói có thể giải quyết nỗi khổ niềm đau về mặt chuyển hoá cảm xúc, gắn liền với từng phần quà nho nhỏ thì những người tiếp nhận quà, sau khi sử dụng nó để bảo đảm về phương diện vật thực thì còn có được thêm một gia tài tâm linh rất quý báu mà họ không có điều kiện tiếp xúc, hoặc muốn tiếp xúc nhưng cũng không biết kiếm ở đâu, vì họ chưa đủ điều kiện, phương tiện để tìm thấy những giá trị tâm linh đó.

Những người Phật tử đi chùa lâu năm hiểu được các điều này nên mỗi khi làm từ thiện thì gắn thêm những câu Phật ngôn. Nếu ai làm được như thế thì người đó được gọi là một vị Phật Dược Sư, một vị thầy thuốc tâm linh, một nhà từ thiện nhập thế về phương diện tinh thần, mang lại giá trị lợi lạc cả về vật chất lẫn tinh thần. Nếu chỉ làm ở mặt vật chất không thôi thì rất uổng phí.

Trong nhiều năm qua, khi chúng tôi đi làm từ thiện ở các nơi đều gắn liền với việc giảng kinh, thuyết pháp. Nếu những nơi không đủ phương tiện chia sẻ pháp thoại thì chúng tôi thường không đến vì có quá nhiều tổ chức từ thiện xã hội thực hiện công việc này rồi. Chúng tôi nghĩ, nỗi khổ niềm đau về phương diện vật thực cùng lắm chỉ giết chết con người ở một đời là hết. Chẳng hạn, nạn đói lớn nhất của Việt Nam chỉ diễn ra năm 1945, nhưng cái đói khát về tâm linh, đạo đức, tuệ giác, lòng từ bi có thể giết con người từ đời này sang đời khác, không chỉ một người mà nhiều người ở bình diện lây lan và mở rộng.

Do thế, thái độ quan tâm đầu tiên của Đức Phật là làm thế nào để giúp cho cuộc đời có được an sinh xã hội về đạo đức và tâm linh. Và đính kèm theo tuệ giác bên cạnh, vì tuệ giác là phương pháp. Giúp cho người khác bát cơm manh áo một ngày thì chỉ có thể giúp họ vượt qua cơn đói khát một buổi, còn dạy cho họ phương pháp để có được bát cơm manh áo thì giúp họ cả cuộc đời và giúp luôn con cháu của họ. Dĩ nhiên, để giúp họ có được phương pháp này thì trước tiên cần giúp họ vượt qua được cơn khốn đốn, khủng hoảng do thiên tai hoặc nhân tai tạo ra. Đây chỉ là phương tiện chứ không phải cứu cánh.

Bởi thế, khi con người, nhất là những đồng loại đang gặp phải nỗi khổ niềm đau thì tất cả những Phật tử giàu hay nghèo, mỗi người hãy có một tấm lòng tuỳ theo điều kiện, vai trò, vị trí xã hội, tiền bạc mà đóng góp để làm công việc đó. Vì làm công việc này là đang mở rộng biên cương, bờ cõi của đạo Phật đến với những người bất hạnh.

Kinh nghiệm về cơn sóng thần của Tích Lan gần đây là một nỗi khổ niềm đau đối với chúng ta. Cơn sóng thần ấy đã biến rất nhiều nơi ở Tích Lan thành bình địa. Nạn dịch bệnh lan tràn sau khi cơn sóng thần đi qua. Chủ nghĩa nhập thế của Phật giáo Tích Lan không hiệu quả nên đã làm cho rất nhiều người Phật tử từ bỏ đạo Phật sau cơn khổ đau này. Bởi vì, các nhà sư không đủ uy tín về sự dấn thân cần thiết ở phương diện an sinh xã hội để giúp cho những người theo đạo của mình vượt qua nỗi khổ ngặt nghèo nhất.

Công giáo, Hồi giáo có những chính sách kêu gọi và nói rằng, đi theo đạo Phật sẽ trở nên nghèo đói, đối với nỗi khổ niềm đau thì đạo Phật quay lưng lại. Nếu theo chúng tôi thì Chúa sẽ cứu, đấng Alah sẽ giúp, sẽ có công ăn việc làm, có nhà tình thương,… Những lời kêu gọi này đã khiến cho rất nhiều Phật tử chưa hiểu rõ bản chất và sự vượt trội của đạo Phật so với các tôn giáo vừa nêu từ bỏ đạo Phật, đánh mất quyền an vui, hạnh phúc lâu dài mà bản thân họ phải có và được tôn trọng quyền đó bằng luật pháp. Đó là kinh nghiệm rất khổ đau.

Trong khi đó, Phật tử tại những nơi có nỗi khổ niềm đau do sóng thần ở Thái Lan gây ra đã được quốc gia chăm sóc chu đáo. Chính phủ Thái Lan xuất ngân sách quốc gia chi trả vào các vật dụng giúp tái thiết lại cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, tái hội nhập lại sinh hoạt xã hội.

Lời nguyện thứ 11 của Đức Phật Dược Sư là một chủ nghĩa nhập thế về từ thiện và an sinh xã hội rất lớn. Nghĩa là, đừng bao giờ quên hạnh bố thí, vì đó là trọng tâm của đạo Phật. Dù hiểu như vậy nhưng đừng nghĩ việc dấn thân đó để kiếm thêm tín đồ, vì nếu mang toan tính thì tâm của người làm lành bố thí cúng dường rất hạn cuộc, nhỏ nhoi.

Là Phật tử phải hiểu được lời Đức Phật dạy, hoan hỉ trước khi hành thí, hoan hỉ đang khi bố thí, hoan hỉ sau khi hoàn tất việc bố thí dù cho ai đó nói ngả nói nghiêng, phê bình,… thậm chí người tiếp nhận sự hỗ trợ, giúp đỡ trở nên bạc nghĩa vô tình, trả ơn bằng kiểu ân oán giang hồ thì vẫn cứ hoan hỉ.

Vì thấy rõ, việc làm dấn thân đó là một nhu cầu đem lại niềm vui cho người khác và lấy niềm vui đó làm niềm vui của bản thân. “Phụng sự chúng sinh tức là cúng dường chư Phật”, do vậy, không mong cầu sự đền đáp của những người đã được giúp. Nhưng khi được người khác giúp thì không bao giờ vong ân bội nghĩa và phải tìm cách trả lại thật xứng đáng, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, tuỳ theo điều kiện cho phép.

Thế nên, phải gắn liền lời Đức Phật dạy với việc làm lành, thông qua từ thiện, vì bốn pháp đắc nhân tâm, bốn pháp thiết lập mối quan hệ tình thương và thân hữu trong xã hội là bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự thì bắt đầu bằng pháp bố thí. Muốn có đồng sự cùng chức nghiệp, cùng khuynh hướng, cùng lý tưởng thì con đường giúp đỡ tha nhân dễ dàng thiết lập nhất.

Có tình thân thương với người khác mà lúc nào cũng kể lể, nguyền rủa, buộc người khác mang ơn, luôn nhắc tới ân nghĩa làm cho người nhận phần giúp đỡ cảm thấy như một gánh nặng. Do vậy, họ thay vì mang ơn lại trở thành oán hận.

Đức Phật dạy, nghệ thuật kéo theo sau đó là đang trong lúc hành bố thí hãy nói bằng ngôn ngữ của lòng từ bi, tình thân thương và thậm chí phải năn nỉ, cám ơn người nhận bố thí. Tức là, giúp người khác mà phải cám ơn họ để cái bản ngã, cái tôi, cái chủ nghĩa công thần không được thiết lập trong hành vi làm lợi cho người khác. Thế gọi là ái ngữ. Ái ngữ rồi vẫn chưa đủ, mà còn phải lợi hành, có nghĩa là tiếp tục làm các công việc giúp đỡ cho họ tới cùng, chứ không thể như kiểu “đem con bỏ chợ” hay hứa một đàng làm một nẻo.

Không phải dẫn người ta đến đạo Phật rồi nhưng họ chưa hiểu đã bỏ người ta, mà phải hướng dẫn tận tình, chu đáo. Từ đó mới có đồng sự. Con đường đó mới mở ra thân bằng và lâu dài. Đó là chủ nghĩa nhập thế về phương diện an sinh xã hội. Ai làm được điều này thì giá trị lợi lạc sẽ mở rất rộng, gia tăng ngày càng nhiều, ngày càng lớn.

Ngoài ra, đạo Phật còn dạy về chủ nghĩa nhập thế ở các phương diện văn hoá, giáo dục, kinh tế,… Nói chung, người cư sĩ tại gia có nhiều hình thái và điều kiện nhập thế hơn người xuất gia, vì giới hạn của người xuất gia nằm ở chỗ, phát triển đời sống tâm linh và đạo đức nên dấn thân nhiều như người tại gia thì đôi lúc người xuất gia mất cơ hội bồi dưỡng đời sống tâm linh, dẫn đến có thể bị văn hoá hoá, kinh tế hoá, xã hội hoá, bê tông cốt thép hoá… nếu bỏ rơi đời sống tâm linh là giá trị sở trường quan trọng nhất của người tu hành. Do đó, cách thức nhập thế của người xuất gia khác với người tại gia.

Tóm lại, con đường nhập thế của Phật giáo không phải là sản phẩm dành riêng cho những người xuất gia, mà chúng ta phải có trách nhiệm, bổn phận góp một phần sức lực, một bàn tay lăn chuyển bánh xe chánh pháp vào trong cuộc đời. Bởi vì đó là công việc của tất cả mọi người. Người tại với cách thế là chủ nghĩa kinh nghiệm riêng thì con đường dấn thân nhập thế khác nhau. Người xuất gia đặt nặng giá trị tâm linh, đạo đức nên con đường nhập thế nằm ở chuyển hoá và tu tập. Hai bên cùng phối hợp thì mọi thành phần, mọi người trong xã hội sẽ được an vui và hạnh phúc.

Nếu các nhà lãnh đạo quốc gia của Việt Nam ở hiện tại nhìn thấy được giá trị tâm linh, đạo đức của đạo Phật và tạo cơ hội nhiều hơn nữa cho đạo Phật nhập thế, dấn thân, nhất là trên phương diện văn hoá, giáo dục và kinh tế, thì tin chắc rằng ở tương lai gần, đạo Phật sẽ thực sự trở thành thực phẩm tâm linh và đạo đức cho dân tộc Việt Nam, chứ không còn là giá trị báu vật chỉ được trưng bày ở các viện bảo tàng. Muốn điều đó được thành công thì bàn tay đóng góp và sự góp công của quý vị là một điều kiện không thể thiếu.