![]() |
![]() |
|||
|
Phật giáo với xã hội Việt Nam thời kỳ hiện đại hóa Thạc sĩ Bùi Hữu Dược Trong bối cảnh xã hội hiện nay, khi những bất ổn trong đời sống xã hội diễn ra hằng ngày, xung đột sắc tộc, tôn giáo diễn ra khá phổ biến ở nhiều khu vực trên thế giới thì mô hình cộng đồng sống trong tình yêu thương, sự hoà hợp, đoàn kết, hữu nghị, trở thành một điển hình, một bài học quý giá. Mô hình ấy hướng con người tới cuộc sống tốt đẹp, yêu thương, gắn bó, mong muốn con người chung sống trong hoà bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Điều ấy đã được Phật giáo thực hiện từ hơn 2.500 năm. Hiện nay, trong đời sống hiện thực, tư tưởng, triết lý Phật giáo không những giữ nguyên giá trị mà còn có ảnh hưởng và tác động tích cực hơn đối với xã hội hiện đại. Dường như những giá trị tốt đẹp của Phật giáo ngày càng được khẳng định tính thiết thực, đúng đắn. Kể từ ngày 15/12/1999, ngày Đại Hội đồng Liên Hợp quốc thừa nhận Đại lễ Tam hợp của Đức Phật là ngày Lễ hội Văn hoá Tôn giáo của Liên Hợp quốc thì những giá trị tốt đẹp của Phật giáo được đông đảo nhân dân các nước trên thế giới khẳng định và tôn vinh. Trong đời sống của xã hội hiện đại, tư tưởng, triết lý Phật giáo có giá trị và ý nghĩa quan trọng bởi vì xã hội hiện đại là xã hội tôn trọng trí tuệ và khuyến khích sự phát triển của trí tuệ để phục vụ đời sống của con người. Xã hội hiện đại xem trọng trí tuệ. Đây là một lợi thế đối với Phật giáo bởi tôn giáo này lấy trí tuệ làm cốt lõi cho sự tồn tại và phát triển. Điều khẳng định ấy được thể hiện qua việc Phật giáo đề cao phương châm “Duy tuệ thị nghiệp”, nghĩa là chỉ có trí tuệ mới làm nên sự nghiệp. Đạo Phật là đạo của sự giác ngộ, đạo giải thoát khỏi sự tham lam, mê lầm, sân hận. Phật giáo xem đó là ba thứ độc (tam độc) dẫn con người đến khổ đau đều từ nguyên nhân do “vô minh” (không hiểu biết). Con người muốn giác ngộ thì không còn con đường nào khác ngoài sự nâng cao trí tuệ để nhận thức đúng đắn về thế giới tự nhiên và xã hội, hiểu rõ về mối quan hệ của cá nhân trong thế giới và thế giới ảnh hưởng tới cá nhân, từ đó có hành động và ứng xử đúng đắn, phù hợp, đảm bảo sự hài hoà giữa con người và tự nhiên, cá nhân và xã hội. Ít có phân định rành rọt về trí tuệ Phật giáo và tri thức khoa học. Cần thấy rằng, trí tuệ trong quan niệm của Phật giáo được hiểu rộng hơn, sâu sắc hơn tri thức khoa học mà chúng ta quan niệm. Tri thức khoa học thuần tuý đang được sử dụng để nhận thức thế giới, khai thác thế giới nhằm phục vụ nhu cầu con người, cao hơn nữa là cải tạo thế giới nhằm nâng cao đời sống con người. Quá trình đó đã giúp cho con người và xã hội loài người có những tiến bộ vượt bậc. Tuy nhiên, nó cũng tạo nên không ít hệ lụy mà con người phải chịu hậu quả khôn lường: ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, bệnh nan y,v.v… Hậu quả ấy còn đưa tới vấn nạn lớn hơn cho con người, đó là khủng hoảng niềm tin, mất phương hướng trong cuộc sống và tình cảm của không ít người ngay trong chính điều kiện sống ngày một đầy đủ hơn của họ. Trong lúc xã hội hiện đại gặp nhiều vấn nạn thì trí tuệ Phật giáo tỏ ra có tác dụng. Nó không chỉ hướng con người tới nhận thức thế giới, cải tạo và chinh phục thế giới để nâng cao cuộc sống con người mà còn giúp cho xã hội giải quyết nhiều vấn nạn trên cơ sở tạo nên sự cân bằng giữa con người với con người, con người với tự nhiên trên nền tảng tư tưởng “Thiểu dục, tri túc” nhằm hóa giải sự chênh lệch để tạo sự cân bằng tới mức tối đa. Sự khác biệt ấy cho thấy sự sâu sắc của trí tuệ Phật giáo. Ngày nay, nhân loại càng thấm thía khi không ít người phải chịu hậu quả, phải đánh đổi cả những gì có được do chiếm đoạt, khai thác tự nhiên thái quá hoặc do tranh cướp tàn nhẫn quyền lợi công sức chính đáng của đồng loại cũng không tìm lại được một phần sự cân bằng, bình yên. Trong lúc khủng hoảng ấy, nếu họ tìm đến được với Phật giáo, triết lý cân bằng của Phật giáo sẽ giúp họ nhận thức ra việc đã làm, tạo cho họ tĩnh tâm để lấy lại cân bằng, để họ tự tìm thấy giá trị của chính mình khi sống hòa đồng với mọi người trong cuộc sống. Điều đó cho thấy trí tuệ Phật giáo vi diệu, có sứ mệnh thực hiện chức năng điều chỉnh, bổ sung cho tri thức khoa học theo hướng phục vụ mục đích lâu dài vì sự cân bằng và phát triển cuộc sống của con người và xã hội. Không ai phủ nhận những mặt tích cực của xã hội hiện đại. Nhờ những tiến bộ của khoa học, con người đã tạo nên những thành tựu kỳ diệu trong mọi lĩnh vực. Nhờ sự trợ giúp của các phương tiện máy móc hiện đại được phát minh bởi trí tuệ con người, cuộc sống của con người thay đổi ngày một khác: thế giới rộng lớn trước kia giờ ngày một trở nên bé nhỏ, giao tiếp của con người dần trở nên đơn giản, dễ dàng hơn. Con người như được nối dài tay, chắp thêm chân và nhìn thấu mọi nơi để có thể thu nhỏ thế giới trong tầm tay. Song cũng chính từ những sự thay đổi ấy, mặt trái của xã hội con người dần xuất hiện theo những chiều trái ngược. Nhiều người rất xa nhau, nửa vòng trái đất, có thể hiểu nhau và gần gũi, chia sẻ cùng nhau nhờ phương tiện hiện đại. Ngược lại, không ít người ở rất gần nhau nhưng quan hệ giữa họ là xa lạ cũng chính bởi điều kiện sống đầy đủ và phương tiện hiện đại mà họ không phải lệ thuộc vào nhau hoặc không cần có mối quan hệ với nhau. Sự đối lập ấy đang ảnh hưởng tới quan hệ thân thiện giữa con người với con người. Nhờ những tiến bộ của khoa học, nhiều bệnh nan y của con người được chữa trị. Song cũng chính vì những tiến bộ khoa học đã can thiệp thái quá làm biến đổi cấu trúc vốn có của sự sống hoặc thay đổi sự cân bằng hệ sinh thái, thay đổi môi trường theo chiều hướng bất lợi cho sức khoẻ của con người, làm xuất hiện nhiều căn bệnh nan y mới. Đối với xã hội, nhờ tiến bộ của khoa học, các nền văn minh được truyền bá, giao thoa với tốc độ nhanh và quy mô rộng khắp thế giới. Song, tiến bộ xã hội được du nhập thì tệ nạn xã hội cũng đi liền theo. Ở đâu văn minh nhân loại tới càng nhiều thì văn minh bản địa, bản sắc văn hoá truyền thống dân tộc còn lại càng ít. Trong thời đại hiện nay, những nghịch lý ấy, xét ở khía cạnh tích cực, là cơ hội để mọi người đều có thể được thực hiện và hưởng thụ thành tựu của khoa học. Xã hội hiện đại tạo nên nhiều thành tựu, đồng thời cũng nảy sinh nhiều hệ lụy, đó là: sự khủng hoảng xã hội, sự mất cân bằng về tư tưởng, tình cảm của nhiều người, sự khủng hoảng về niềm tin, sự mất phương hướng trong cuộc sống. Để ổn định và tìm lại sự cân bằng cho cuộc sống, tìm chỗ dựa cho tinh thần, nhiều người đã tìm tới tôn giáo. Đó là mảnh đất màu mỡ cho tôn giáo phát triển không chỉ trước kia mà cả ngày nay khi khoa học kỹ thuật phát triển ở tầm cao. Trong số đông những người mất cân bằng tìm đến với tôn giáo, có được bao nhiêu người gặp Phật giáo, có may mắn chuyển hoá được triết lý Phật giáo để trở thành liều thuốc hiệu quả đúng với bản chất của Phật giáo là sự phát triển cân bằng, thúc đẩy sự phát triển đảm bảo trong sự hài hoà, hợp lý. Bao nhiêu người hiểu được Phật giáo về bản chất là sự phát triển bền vững bởi nó luôn tạo sự hài hoà trong mối liên hệ hỗ trợ nhau cùng phát triển theo luật chi phối: có vay có trả - có cho có nhận. Đối với Việt Nam hiện nay, theo đường lối đổi mới của Đảng, đất nước đang tiến mạnh, tiến nhanh, tiến vững chắc trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thấy rõ tính hai mặt của sự phát triển xã hội theo hướng phát triển mạnh khoa học công nghệ không điều chỉnh dễ gây nên mất cân bằng sẽ tạo ra hệ lụy cho đời sống xã hội khôn lường. Thấm thía bài học ấy, ngay từ bây giờ, chúng ta đã xác định phát triển khoa học công nghệ để nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân theo hướng cân bằng bền vững thì chắc chắn xã hội sẽ luôn phát triển theo đúng nghĩa tốt đẹp của nó, nếu không chúng ta sẽ lặp lại việc gánh chịu hậu quả của sự phát triển mất cân bằng mà nhiều nước đi trước đã phải trả giá. Trước nhận thức ấy, Đảng và Nhà nước Việt Nam thấy rõ giá trị của Phật giáo đóng góp cho sự phát triển của đời sống xã hội, phù hợp với đường lối của Đảng trong cương lĩnh xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy, Chính phủ đã quyết định đăng cai và tài trợ ngân sách cho việc tổ chức Đại lễ Phật đản Liên Hợp quốc năm 2008 tại Việt Nam nhằm: - Tỏ rõ chính sách tôn giáo đúng đắn, chính sách xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trong bối cảnh đó, Hội thảo khoa học Phật giáo với văn hoá, xã hội Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, trực tiếp là Viện Nghiên cứu Tôn giáo, tổ chức là một việc làm có ý nghĩa. Hội thảo sẽ góp phần khẳng định thêm giá trị của Phật giáo trong thời đại hiện nay, đồng thời khẳng định việc làm thiết thực mà Đảng, Nhà nước, Giáo hội Phật giáo Việt Nam và những ai yêu mến, tôn trọng tư tưởng, triết lý Phật giáo đang cổ vũ để thực hiện với mong muốn góp phần xây dựng một thế giới phát triển cân bằng, bền vững vì hoà bình hữu nghị, xây dựng một nước Việt Nam theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. |
||||
![]() |
||||