![]() |
![]() |
|||
|
Sự nhập thế của Phật giáo Việt Nam TT. Thích Tâm Đức Sức mạnh văn hoá của dân tộc Việt Nam Nhiều lần trong lịch sử của nhân loại, những sự việc đã xảy ra chỉ có thể đặt trong phạm trù những hiện tượng kỳ diệu. Những hiện tượng như vậy đã làm ngạc nhiên cả những nhà sử học lẫn khoa học. Lịch sử đấu tranh và giải phóng dân tộc của người Việt Nam khỏi những đế quốc hùng mạnh như Trung Quốc, Mông Cổ, Pháp, Mỹ chính là một trong những hiện tượng kỳ diệu như thế. Điều này có thể chỉ ra rằng, đứng về phương diện vật chất thì Việt Nam không phải là đối thủ của những cường quốc ấy. Do vậy, người ta phải tìm một lối giải thích khác cho sự kỳ diệu này: sức mạnh văn hoá của dân tộc Việt Nam. Thiền Phật giáo Việt Nam là một thực thể đa phương diện của văn hoá dân tộc Việt Nam Vào thời đức Phật, Thiền được xem là con đường duy nhất không chỉ dành cho sự vượt qua khổ đau mà còn cho sự chứng đạt mục đích tối hậu Niết Bàn. Nhiều lợi ích được mong đợi từ việc hành trì nó. Thiền vốn không phải là lĩnh vực của ý thức so đo, phân biệt, nhưng vì đặc tính của nó là tự do, giải thoát, tự tại nên ở nhiều phương diện, nó được mô tả bằng những hình ảnh và khái niệm hết sức phong phú. Tuy nhiên, thiền đã không trở thành một tông phái độc lập cho đến khi Bồ Đề Đạt Ma (khoảng 470 AD – 534 AD) từ Ấn Độ đến Trung Quốc với tinh thần siêu việt mọi khái niệm và các hình thức chấp thủ vào ngoại duyên để ngộ nhập chân như Phật tánh như bài kệ truyền pháp của thiền môn:
Người Trung Quốc với tinh thần thực tiễn đã chấp nhận thiền như là tinh hoa của đạo Phật mà họ có thể hiểu và thực hành. Rồi, thiền như một tông phái Phật giáo đã trở thành nếp sống tinh thần của người Trung quốc trong đời sống thực tế hàng ngày. Sau đó, một vài thiền sư từ Ấn Độ, Trung Quốc đã du hành đến Việt Nam và thành lập những thiền phái mới mang tên của họ ở đó, như là Tỳ Ni Đa Lưu Chi (mất năm 594), Vô Ngôn Thông, người Trung Quốc (mất năm 826), Thảo Đường, người Trung Quốc (1069). Đạo Phật đã đến Việt Nam vào khoảng một hoặc hai thế kỷ trước Công nguyên. Đó là khoảng thời gian cả dân tộc Việt đang đứng lên đấu tranh nhằm giải phóng ách đô hộ phương Bắc (111 trước CN – 938 CN). Thuở ấy, đạo Phật đã xuất hiện và được người Việt chấp nhận như là vị cứu tinh, họ mong ước có một vị Bụt quyền năng xuất hiện để che chở và đáp ứng nguyện vọng của mình. Nhưng tất cả chỉ dừng lại ở ước nguyện mang tính cổ tích mà thôi. Dần dần, người Việt nhận ra rằng chỉ có sức mạnh của chính mình mới có thể cứu mình. Đây là lý do tại sao thiền đã trở thành vai trò mang tính quyết định sau đó. Không nghi ngờ gì nữa khi ngôi chùa Phật giáo đầu tiên lại mang tên là “Khai Quốc” đã được xây dựng vào thời gian của cuộc kháng chiến thành công ngắn ngủi (545 – 603) do Lý Bôn lãnh đạo. Như vậy cho nên, chúng ta thấy rằng, đã có sự di chuyển từ khuynh hướng siêu thoát sang khuynh hướng nhập thế ở đạo Phật Việt Nam, từ Tì Ni Đa Lưu Chi đến thiền phái Trúc Lâm và xuyên suốt cho đến tận bây giờ. Trong thập niên 1960, trước chính sách kỳ thị tôn giáo ở miền Nam, nhiều phong trào Phật giáo đã nổi lên và đấu tranh cho sự bình đẳng giữa các tôn giáo. Và ngọn lửa của Bồ tát Thích Quảng Đức mang chất liệu từ bi đã làm rung động mọi con tim khắp nơi trên thế giới. Chính tinh thần vị tha, đầy lòng nhân ái của chất liệu từ bi, đã thôi thúc cho những người yêu hoà bình phải đứng lên bảo vệ mạng sống của nhân dân, bảo vệ điều nhân nghĩa. Nói đến tinh thần nhập thế của Phật giáo thì không phải đến bây giờ các thế hệ Phật giáo mới bắt đầu quan tâm. Nó đã được thể hiện ngay từ buổi đầu đất nước giành được độc lập với câu hỏi: “Làm thế nào để quốc gia được bền vững?” - một vấn đề có tầm vóc trọng đại đã được vua Lê Đại Hành (980 – 1005) nêu lên không lâu sau khi Việt Nam khôi phục lại chủ quyền sau một nghìn năm dưới ách đô hộ của Phương Bắc, và đã được thiền sư Pháp Thuận trả lời như sau:
Nghĩa là:
Theo Pháp Thuận, chính sự thực hành đạo đức của chính quyền là nguyên nhân chính yếu cho sự thống nhất các tầng lớp quần chúng và sự vững bền của dân tộc. Trên phương diện chính trị, quần chúng đóng vai trò quan trọng. Những vị vua Phật giáo đời nhà Lý và Trần đã coi trọng “ý dân,” “lòng dân,” “bạn của dân,” “thương sức lao động của dân” trong khi thực hiện những hoạt động chính trị như dời đô, lên ngôi, thay đổi triều đại, tuyên chiến. Tuy nhiên, để thu phục lòng dân, vua phải sống có đạo đức. Khái niệm đạo đức của một vị vua như thế nào đã được Quốc sư Viên Thông (1080 – 1151) giải thích như sau: Dân ví như một đồ vật, nó sẽ yên khi được đặt ở chỗ yên và nó sẽ nguy hại khi được đặt ở nơi nguy hiểm. Điều quan trọng là tính cách của vua. Nếu đạo đức của vua phù hợp với lòng dân thì dân sẽ kính yêu vua như cha mẹ, sẽ ngưỡng nhìn và xem vua như mặt trăng mặt trời. Điều đó có nghĩa là đặt dân vào nơi chỗ yên vậy. Vì dựa trên nền tảng của đạo đức nên các vua Lý và Trần đã thu phục được lòng dân, đoàn kết thành một khối sức mạnh đa chiều và đưa dân tộc ta đi tới với những chiến công oanh liệt, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia..Trong bài hịch “Lộ Bố” khi chống lại quân Tống, đại tướng Lý Thường Kiệt đã nói: “Trời sinh ra dân chúng, vua hiền ắt hòa mục. Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân.” Khi trả lời vua Trần, tướng Trần Hưng Đạo đã chỉ ra những nguyên nhân căn bản dẫn đến chiến thắng Nguyên Mông và kế bảo vệ đất nước như sau: “Vua và dân đồng lòng, anh em hòa hợp, và toàn dân đóng góp công sức… Hơn nữa, khoan thư sức dân cho kế lâu dài là giải pháp tốt nhất để bảo vệ đất nước vậy.” Mối liên kết đa chiều giữa Phật giáo Việt nam và dân tộc. Trên bước đường đi tời của lịch sử, cùng với sự thăng trầm của đất nước, Phật giáo luôn song hành và đã có những đóng góp thiết thực cho sự phát triển bền vững và toàn diện của xã hội Việt Nam. Một học giả Việt Nam cận đại đã nhận xét rằng: “Triều Lý có thể được gọi là triều đại từ bi nhất trong lịch sử của dân tộc ta. Chính do ảnh hưởng của đạo Phật.” Và một học giả khác khi bình luận về kinh tế ở triều đại nhà Trần (1225 – 1400), đã phát biểu như sau như sau: “Không có một giai đoạn nào trong lịch sử trung đại Việt Nam mà kinh tế công thương nghiệp và thành thị lại phát triển như vậy, lại được nhà nước phong kiến tạo điều kiện mở mang như vậy. Thương nhân được tự do kinh doanh, tầng lớp đại thương trở thành tầng lớp tiến bộ nhất trong xã hội ở các thế kỷ XIII – XIV.” Đối với tôn giáo, Phật giáo Việt Nam tôn trọng sự bình đẳng giữa các tôn giáo. Vua Trần Thái Tông (1218 – 1277), một thiền sư Phật giáo, đánh giá cao ba tôn giáo – Khổng giáo, Lão giáo và Phật giáo. Thiền sư nói: Mặc dầu cuộc đời là quý, nhưng nó không quý như đạo. Do vậy, Khổng Tử nói: “Thật thỏa mãn cho ta khi được nghe Đạo vào buổi sáng cho dầu phải chết vào buổi chiều”. Lão Tử nói: “Ta có một nỗi lo lớn, chính vì ta có cái thân này”. Còn Đức Phật xuất gia tầm đạo chính là vì để cứu độ chúng sinh đang đau khổ. Ba vị thánh này đã xem thường thân mạng mình để coi trọng đạo. Thật thế, trong khoảng thời gian từ thế kỷ 15 cho đến thế kỷ 19, Khổng giáo đã thay thế vai trò lãnh đạo của Phật giáo, rồi đến sau năm 1954, Ki-tô giáo lại muốn lên nắm thế độc tôn của Việt Nam. Tuy nhiên, dù đã cố gắng nhằm phá hoại mối liên kết giữa Phật giáo và dân tộc nhưng đến nay, Phật giáo vẫn tồn tại như một tôn giáo mà đa số người Việt là tín đồ của tôn giáo này. Và văn minh Phật giáo ở triều đại Lý và Trần (1010 – 1400) chính là di sản quý giá cho Phật giáo Việt Nam nói riêng và xã hội hiện nay nói chung. |
||||
![]() |
||||