(trở về mục lục)

Suy nghĩ về Phật giáo nhập thế và xã hội dân sự ở Việt Nam

Andrew Wells-Dang[1]
Diệu Liên lược dịch

Những thập niên qua đã chứng kiến sự hồi sinh trở lại trên lý thuyết cũng như thực hành về một xã hội dân sự trên thế giới. Gần đây nhất, là trường hợp của Việt Nam, nơi mà từ ‘xã hội dân sự’ (civil society) trước đây còn xa lạ, giờ đã được các viên chức chính phủ cũng như các tổ chức xã hội chấp nhận và sử dụng giống nhau. Trong khi các nhà xã hội học và chính trị gia còn chưa thống nhất về định nghĩa của xã hội dân sự, thì tôi hiểu ý nghĩa của từ này trong môi trường xã hội Việt Nam theo một số cách nhìn.

Trước tiên, thay vì phân biệt rạch ròi hay chống đối giữa xã hội dân sự và chính phủ, thì người Việt Nam theo chủ nghĩa này đã chú trọng đến sự hợp tác và chia sẻ. Thứ đến, người ta cũng ít chú trọng xem những tổ chức xã hội dân sự này bao gồm ai và ai là người điều khiển nó, mà quan trọng là xã hội dân sự làm được những gì. Thay vì tranh cãi xem cái gì là của xã hội dân sự, một quan điểm thông thoáng hơn chấp nhận tính đa dạng của các thành phần xã hội, kể cả các cá nhân và những thành phần thuộc chính phủ, có khả năng hoạt động như là một thành viên trong hệ thống và phong trào của xã hội dân sự ở nhiều thời điểm. Tôi nghĩ nếu ta xem xã hội dân sự không phải là một ‘chiến trường’ hay ‘võ đài’ mà là một quá trình qua đó các cá nhân và tổ chức họp lại cùng hành động để tiến tới một tương lai tốt đẹp chung. Như tôi sẽ trình bày sau, các đặc tính này cũng được áp dụng và cộng hưởng với các hình thức của hành động tập thể được gọi là ‘Phật giáo nhập thế’.

Tuy nhiên, không phải các quan sát viên bên ngoài, ai cũng chia sẻ cái nhìn khá lạc quan của tôi. Khi tôi được tiếp xúc với một chuyên gia quốc tế về tình hình chính trị ở Việt Nam tại một buổi họp vài tháng trước đây và chia sẻ với ông về đề tài nghiên cứu của tôi, ông đã phản ứng thẳng thừng rằng: “Xã hội dân sự à?!” Với một định nghĩa hẹp hòi về xã hội dân sự như là một mô hình lý tưởng của dân chủ tự do, một số học giả kết luận rằng Việt Nam cũng như một số các nước đang phát triển khác không có xã hội dân sự vì chúng không phù hợp với định nghĩa của họ. Michael Gray (1999) so sánh những tổ chức Phi chính phủ Việt Nam mới có mặt với ‘bài diễn thuyết về từ thiện ở phương Tây’, rồi kết luận một cách tùy tiện rằng Việt Nam không ‘phù hợp với bất cứ định nghĩa nào về một xã hội dân sự là phải độc lập với chính phủ và đối cực lại với ý thức hệ của chính phủ’. Tương tự, hai chuyên viên Trung Quốc cũng lập luận, mà không có chứng cứ, rằng ‘lãnh vực hoạt động mới của Việt Nam về tổ chức Phi Chính Phủ (NGO) thể hiện. . . những đặc tính của việc được bảo trợ và tùy thuộc vào chính phủ” (Howell và Pearce 2001: 146n). Xã hội Việt Nam đã thay đổi đáng kể từ những năm 1990, nhưng những cách tranh luận như thế này vẫn áp đặt những lý luận một chiều và vô căn cứ. Ngoài ra, khi chỉ kể đến một vài tổ chức phi chính phủ nào đó làm thí dụ, các vị lý thuyết gia này đã bỏ qua những yếu tố quan trọng của xã hội dân sự không chống đối lại (hay tùy thuộc vào) chính phủ nhưng đóng góp tích cực vào sự phát triển xã hội.

Tôi muốn trở lại trường hợp Việt Nam và vai trò đặc biệt của Phật giáo trong xã hội dân sự, trong quá khứ cũng như hiện tại. Phật giáo đóng một vai trò quan trọng trong xã hội Việt Nam , ít nhất là kể từ đời Lý, Trần (thế kỷ XI_XIV). Nhiều vị sư đã tham dự vào triều chính, đóng vai trò cố vấn quan trọng cho triều đình. Ngược lại, nhiều vị vua, cũng như các quan triều đình tin theo Phật giáo, nổi bật nhất là vua Trần Nhân Tông, người đã bỏ ngôi vua vào năm 1293 để thiết lập dòng thiền Trúc Lâm trên núi Yên Tử. Trường phái Trúc Lâm thống nhất ba nhánh của thiền Việt Nam lúc bấy giờ (Huu Ngoc, 2002). Phật giáo này không phải là ‘tùy thuộc’ vào chính phủ -đúng ra, nó liên hệ gần gũi với chính quyền - nhưng nó vẫn giữ được bản sắc và giá trị riêng là một động lực đưa xã hội tiến lên và ‘nó đã để lại dấu ấn mãi mãi trong tâm người Việt Nam’ (Nguyễn Khắc Viện 2002: 47). Để bày tỏ lòng tôn kính lịch sử đáng hãnh diện này, Hòa thượng Thích Thanh Từ, gần đây đã thiết lập lại dòng thiền Trúc Lâm này (Soucy, 2007).

Trong các triều đại sau, Phật giáo không còn ảnh hưởng trực tiếp đến xã hội nhưng vẫn tiếp tục (đôi khi kết hợp với hai tôn giáo trong khối ‘Tam giáo’ là Khổng và Lão giáo) làm nguồn mạch cho việc tham gia xã hội. Vào thế kỷ thứ XVII, XVIII, Phật giáo lại hồi sinh ở miền nam Việt Nam. Phật giáo và các truyền thống tôn giáo khác đã tạo nên những tổ chức xuất phát từ làng xã, là những mô hình chính cho xã hội dân sự ở nông thôn Việt Nam (Lương Văn Hy, 2005). Một số các tổ chức này, như hội phụ nữ Phật giáo, vẫn tồn tại cho đến ngày này, trong khi các tổ chức khác chỉ có mặt trong giai đoạn sau đổi mới cùng với sự trỗi dậy của tôn giáo (Taylor, 2007).

Vai trò của Phật giáo trong xã hội dân sự đã thay đổi đáng kể trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai từ 1945 - 75. Đối mặt với sự đàn áp và đối xứ phân biệt của chính quyền Sài Gòn ở miền nam Việt Nam, nhiều Phật tử đã biểu tình, trong đó nổi bật nhất là HT. Thích Quảng Đức, người đã tự thiêu ở một góc đường của Sài Gòn năm 1963. Các vị sư khác cũng rời bỏ chùa và bắt đầu sống trong các làng xã, cũng với các cư sĩ. Từ đó phát sinh khái niệm về ‘Phật giáo nhập thế’:

Khi tôi còn ở Việt Nam, nhiều làng mạc của chúng tôi bị thả bom. Cùng với các sư đệ, sư muội, chúng tôi quyết định phải làm gì. Chúng tôi có nên tiếp tục tu hành ở chùa, hay rời bỏ chùa để giúp đỡ người dân đang hứng chịu bom đạn? Sau khi suy nghĩ thấu đáo, chúng tôi quyết định làm cả hai - vừa tu hành vừa ra ngoài để giúp đỡ người dân nhưng thực hiện việc này với tâm chánh niệm. Chúng tôi gọi đó là Phật giáo nhập thế (Thích Nhất Hạnh, 1991: 91).

Vào năm 1965, giữa cuộc chiến, thiền sư Thích Nhất Hạnh và các bạn đồng tu đã đề nghị lên các nhà lãnh đạo Phật giáo Việt Nam nên thành lập một trung tâm huấn luyện các cán bộ xã hội để vun trồng những thay đổi một cách bất bạo động trong xã hội (Chapman, 2007).

Theo thiền sư Thích Nhất Hạnh giải thích sau này, đề nghị đó đã không nhận được sự ủng hộ từ các bậc tiền bối nên trường Thanh niên Phụng Sự xã hội (TNPSXH) bắt đầu hoạt động gần như không có gì, phòng ốc phải mượn và mọi người hoạt động với tư cách là tình nguyện viên. Mặc dầu vậy, chương trình ‘phối hợp tất cả những yếu tố hiệu quả nhất của giáo dục ở trong nước và ở khắp nơi” (Nhất Hạnh và Berrigan 1975). Trường TNPSXH trở thành trường công tác xã hội đầu tiên có mặt trong trường đại học Việt Nam, và dầu sinh viên cũng như các thành viên của trường luôn là mục tiêu của những cuộc đàn áp mạnh mẽ, tính đến năm 1975 trường đã có đến 10,000 người tham gia (Chapman, 2007). Trường đã tạo ra một mô hình cho việc thực hành các công tác xã hội và lý thuyết tiến bộ, cải cách nhanh chóng, thật là một việc đi trước thời gian.

Lúc chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã ở Pháp, nơi thiền sư được hội tụ cùng với các vị Phật tử đã sống sót trong và sau cuộc chiến. Năm 1982, họ thành lập Làng Mai, là một cộng đồng Phật giáo ở miền nam nước Pháp. Khi thiền sư Thích Nhất Hạnh trở về Việt Nam lần đầu tiên vào năm 2005, Việt Nam đã thay đổi nhiều, và Phật giáo toàn cầu cũng thế (Chapman 2007).

Người Việt Nam ngạc nhiên khi thấy các vị Tăng Ni, cư sĩ thành viên trong đoàn đại biểu đến từ Làng Mai là người châu Âu và người Bắc Mỹ đi khắp miền đất nước (Wells-Dang 2007). Phật giáo nhập thế đã trở về với mảnh đất cội nguốn của nó; một mô hình của xã hội dân sự đã được trải qua kinh nghiệm quốc tế lần nữa là nối lại với gốc rễ của nó.

Phật giáo Việt Nam đã tham gia trong nhiều khía cạnh hoạt động xã hội, một số hoạt động vẫn tiếp tục không gián đoạn sau thời hậu chiến, trong khi cũng có trường hợp, các hoạt động chỉ bắt đầu trở lại trong giai đoạn Đổi mới. Thí dụ, các Tăng Ni mở trường lớp cho trẻ em đường phố ở tại các chùa (Pham Ngoc Luan, 2003), chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân nghèo, tạo ra nơi nương tựa cho người già neo đơn không nơi nương tựa (Nguyen Quang Vinh 2006). Nhiều chuyện về những nỗ lực từ thiện như thế có thể tìm thấy trong các tờ báo đời cũng như của Phật giáo như Giác NgộVăn Hóa Phật Giáo. Những khởi đầu này đáng được tán dương, vì hiệu quả và cần thiết, và chúng cũng thể hiện những giá trị Phật giáo đối với xã hội rộng lớn hơn. Tuy nhiên, hiệu quả của chúng khá hạn chế, vì chúng thường tự phát, lẻ tẻ và mang tính từ thiện.

Nhóm Phật giáo đầu tiên bắt đầu như một nhóm nghiên cứu dành cho người ngoại quốc muốn tìm hiểu thêm về Phật giáo Việt Nam; họ tổ chức các chuyến đi thăm các chùa Việt Nam và những địa danh lịch sử khác, và thu thập các bài giảng (Wells-Dang 2007: 439-40). Năm 2003, nhờ sự liên hệ cá nhân của một thành viên trong đoàn, họ được tham dự khóa tu thiền trong một ngày ở một ngôi chùa thuộc ngoại ô thành phố Hà Nội. Buổi tọa thiền do một vị sư cô trẻ vừa trở về từ Làng Mai điều khiển. Ngày tu này được các thành viên trong nhóm nghiên cứu cũng như Phật tử trong các làng xã gần chùa nồng nhiệt hưởng ứng. Chẳng bao lâu sau, những ngày tu thiền được tổ chức hàng tháng ở hai chùa. Lúc đầu, khóa tu được dạy chủ yếu bằng tiếng Việt; sau cũng được dịch sang tiếng Anh.

Khi thiền sư Thích Nhất Hạnh về thăm Việt Nam đầu năm 2005, các thành viên trong nhóm nghiên cứu này tiếp đón với tư cách như người chủ nhà. Họ tổ chức các buổi giảng công cộng ở một số địa điểm quanh Hà Nội. Những buổi tổ chức như thế có vẻ rất thành công, được người Việt Nam cũng như khách quốc tế dự, đầy tràn ra cả các hội trường ở các khách sạn, một số người khác thì xem video có bản dịch đi kèm. Những buổi này và những buổi khác được tổ chức trong chuyến viếng thăm của thiền sư Thích Nhất Hạnh có lẽ là những sự kiện quan trọng, nổi bật nhất chưa từng có do một vị lãnh đạo Phật giáo ở nước ngoài thực hiện ở Việt Nam (Wells-Dang 2007: 430-1).

Nhóm Phật tử thứ hai được thành hình sau chuyến viếng thăm của thiền sư Thích Nhất Hạnh và họ tập trung vào việc tu học. Họ gồm cả người Việt Nam và những người sống xa xứ muốn sống cùng nhau, tọa thiền cùng nhau theo các giới luật của Phật giáo nhập thế. Lúc đầu nhóm người này mướn một ngôi nhà nhỏ trong hẻm ở trung tâm thủ đô Hà Nội. Sau, nhóm này phát triển, không còn đủ chỗ nữa, họ phải dọn đến một căn nhà rộng lớn hơn trong khu dân cư. Hiện tại, hầu như mỗi ngày họ đều có các thời khóa tụng kinh, tọa thiền và học Phật pháp. Phần lớn các buổi tổ chức do các cư sĩ người ngoại quốc thuộc đạo tràng Tiếp Hiện của thiền sư Thích Nhất Hạnh dẫn dắt. Ngôn ngữ chính được sử dụng là tiếng Anh, nhưng cũng có một số bài kinh tụng bằng tiếng Việt Nam. Có khoảng năm mươi thành viên tham gia thường xuyên vào các hoạt động của cộng đồng, và đôi khi họ hợp tác tổ chức với những người Phật tử Việt Nam khác hay khách vãng lai đến từ mọi miền đất nước.

Sau một buổi thảo luận trong một khóa tu giữa năm 2007, thành viên của tổ chức phi chính phủ về môi trường và hai nhóm Phật tử kể trên quyết định làm việc chung với nhau để tổ chức những Bữa Ăn Trưa Trong Chánh Niệm hằng tuần. Mục đích của những cuộc gặp gỡ này, theo những người khởi xướng chương trình, là để tạo nên một ốc đảo an tĩnh giữa một thành phố đông đúc, ồn ào và giữa một tuần lễ bận rộn với công việc. Văn phòng của tổ chức Phi Chính Phủ (tiếng Anh viết tắt là NGO) nằm trong một khu phố khang trang, cạnh bảo tàng lịch sử ở Hà Nội. Tuy nó ở trung tâm thành phố nhưng yên tĩnh. Thức ăn chay đã được chuẩn bị sẵn và thời gian chia ra, giữa sự giữ im lặng và thảo luận nhóm, thường do một trong các vị cư sĩ lãnh đạo tu viện của cộng đồng Phật tử điều khiển.

Việc hành thiền và thảo luận ở các buỗi ăn trưa hằng tuần đã dẫn cả tổ chức phi chính phủ và nhóm Phật tử sang hướng mới. Trong những tháng đầu tiên, thức ăn được đặt mua từ các quán chay ở Hà Nội (cũng do các Phật tử làm chủ). Sau đó một thành viên người Việt Nam trong cộng đồng Phật tử bắt đầu tự nấu. Lần hồi việc này biến thành ra một dịch vụ cung cấp thức ăn chay và mang đến tận nhà, với khả năng sẽ phát triển thành một nhà hàng trong tương lai. Một khả năng khác cũng được mang ra thảo luận là dự án mở một chương trình bữa ăn từ thiện cho người dân địa phương hay nước ngoài lang thang, cơ nhỡ ở Hà Nội.

Nhóm thảo luận cũng quan tâm đến các vần đề an toàn thực phẩm, một mối quan tâm thường trực ở Việt Nam. Do việc sử dụng thuốc trừ sâu và phân hóa học tràn lan trong nông nghiệp, nhu cầu cho một thị trường lớn với rau củ và trái cây ‘sạch’, ‘an toàn’ là có thực, tuy nhiên phần lớn người tiêu dùng không tin vào lời người bán về nguồn gốc thực phẩm của họ. Tổ chức Phi Chính Phủ dự định phát động một dự án trồng trọt theo phong cách tự nhiên ở ngoại thành Hà Nội, để lôi kéo các nhà nông địa phương đến với thị trường rau sạch ở thành phố. Mà đầu mối phân phối chính là các nhóm Phật tử và các thành viên trong nhóm Buổi Trưa Với Chánh Niệm. Người trồng trọt cũng được huấn luyện, tư vấn về thị trường và trách nhiệm trong việc kinh doanh, cải thiện khả năng, lợi nhuận và chất lượng cuộc sống. Ngoài việc được “xoá đói giảm nghèo”, người nông dân cũng được hưởng lợi như người ở thành phố từ sự tăng trưởng lòng tin và sự liên kết giữa các vùng nông thôn với thị thành.

Đối với nhân viên trong tổ chức Phi Chính Phủ, những người đứng ra tổ chức các hoạt động này, Phật giáo thật thực tế khi cung ứng cho họ những khung giá trị khiến cho công việc của họ thêm ý nghĩa, và quan trọng không kém là cung ứng cho họ những phương tiện để chuyển hóa cách thức phát triển đô thị. Hai giá trị chính của Phật giáo nhập thế được phản ảnh trong sự tu tập ở cộng đồng Làng Mai là “Năm Điều Hành Thiền” và các Giới Luật chánh niệm, vừa có tính môi trường, vừa thánh thiện. Theo quan niệm Phật giáo, tất cả các sinh vật tự chúng đều có giá trị riêng và đáng được gìn giữ trong môi trường của chúng. Kể cả cây cảnh, công viên, và vươn rộng tới cả những vật bất động như môi trường xây dựng, không gian. Thứ đến, không có gì hiện hữu tách biệt với mọi thứ chung quanh. Tất cả mọi yếu tố đều được gắn kết; ngay cả rác và hoa cũng ‘có mặt trong nhau’ (Nhất Hạnh, 1991). Nhân viên và thành viên trong các hoạt động phát triển đô thị của tổ chức Phi chính phủ thấy rõ ràng sự liên kết giữa các giá trị Phật giáo với những nguyên tắc căn bản để duy trì việc phát triển. Nhờ làm việc với nhóm Phật tử mà họ có thể chuyển các giá trị trừu tượng thành hành động: ăn uống để có lợi cho sức khỏe, hành động hòa nhã, và phục vụ cho người.

Đặc biệt là trong một thành phố phát triển nhanh chóng như Hà Nội, không gian địa lý quanh ta và mối liên hệ giữa người với nhau đã thay đổi nhanh chóng trong một thời gian ngắn. Giữ được chánh niệm và quán niệm trong một môi trường như thế là một thử thách lớn. Do đó việc người Phật tử thực hành nhìn sâu vào trong và chia sẻ cũng là những phương tiện cần thiết để có thể làm việc một cách hiệu quả trong một cộng đồng luôn chuyển biến. Thí dụ, tổ chức Phi Chính Phủ khi bắt đầu thực hiện một dự án để giúp đỡ những công nhân di dân trong một làng ở một quận ngoại ô thành phố Hà Nội, nơi dân số đã tăng lên gấp ba lần trong sáu năm qua. Nói về môi trường không gian thì nhiều không gian trước đây được dành cho công viên và các khu vực công cộng đã phải nhường chỗ cho việc xây dựng nhà ở cho cư dân mới của họ. Tương tự, các cư dân này phải đối mặt với những khó khăn khi gia nhập vào đời sống ở cộng đồng. Tổ chức Phi Chính Phủ này đã giúp người dân địa phương và cư dân mới hòa hợp và chia sẻ những vấn đề trong cộng đồng của họ. (. . .) Theo phương cách của Phật giáo, tất cả cộng đồng đều tham gia vào quá trình tư duy và lắng nghe nhau trong từng bước – là điều không thể xảy ra trong chỉ một buổi họp. Lắng nghe sâu, quán tưởng và phương thức tham gia không phải chỉ có trong Phật giáo, nhưng tổng hợp lại chúng tạo thành một nhóm phương tiện cộng hưởng được với kinh nghiệm sống của con người và thiết lập được một phương cách sống như thế nào để có thể giữ được sự tĩnh tâm trong thành phố này và cố gắng để cải thiện nó.

Nhờ tiếp xúc với Phật giáo, nhân viên của tổ chức Phi Chính Phủ nhận ra rằng, họ không chỉ cố gắng để đạt được mục tiêu phát triển, mà còn để thể hiện những giá trị của họ trong cuộc sống. Dĩ nhiên, trong bất cứ cộng đồng, thành phố hay xã hội nào, cũng có những người khác chính kiến. Tổ chức Phi Chính Phủ đã tham gia vận động bằng cách tiếp xúc với chính quyền địa phương và các đoàn thể khác trong cộng đồng, cố gắng kêu gọi sự góp sức của các nghệ sĩ càng nhiều càng tốt. Vận động theo phương cách này không phân chia thành ‘họ’ và ‘chúng ta’, với ý nghĩ là ‘chúng ta’ sẽ chuyển đổi được ‘họ’. Mà thật ra là một quá trình liên tục, không gây cảm giác đối đầu để lắng nghe người khác và cùng làm việc với nhau.

Sự phối hợp giữa tổ chức phát triển này và cộng đồng Phật giáo nhập thế đã mang lại những kết quả bước đầu thật khả quan, vừa trong ý nghĩa tôn giáo vừa trong xã hội thị trường. Trong quá trình này, những giá trị Phật giáo đã quen thuộc đối với Việt Nam đã được chuyển đổi lại và hòa nhập trở lại với đất tổ. Nói lên điều này không phải là chúng tôi muốn khuếch đại những đột phá ở bước đầu còn nhỏ bé. Xã hội Việt Nam hiện nay phải đối mặt với nhiều thử thách ở cả địa phương cũng như quốc gia, và người ta còn cần nhiều hơn nữa những nỗ lực như thế, với các chính sách hỗ trợ từ chính quyền. Nhưng chúng tôi muốn nhân đây đưa ra một thí dụ của những gì chúng ta có thể làm được. Sự phối hợp giữa các tổ chức tôn giáo và tổ chức Phi chính phủ có thể thiết lập nên một khía cạnh của xã hội dân sự hành động để tiến tới sự chia sẻ hiểu biết về những sản phẩm chung. Nói rộng ra việc những hệ thống tổ chức này đã phát triển một cách tự nhiên, họ mang đến những triển vọng khả thi cho việc duy trì và phát triển do địa phương chủ động, có lẽ nhiều hơn các hình thức khác của xã hội dân sự đã được mang đến cho Việt Nam qua các nhà hảo tâm quốc tế. 

Sách Tham Khảo:

Bach Tan Sinh (2001): Xã hội dân sự và các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam (Civil Society and NGOs in Vietnam: Some Initial Thoughts on Developments and Obstacles). Ủy Ban Nghị Viện Thụy Điển về Chính Sách của Thụy Điển đối với việc Phát triển Toàn Cầu ở Việt Nam, Hà Nội (Swedish Parliamentary Commission on Swedish Policy for Global Development to Vietnam, Hanoi).

Chapman, John (2007): Cuộc hành hương năm 2005 và Chuyến trở về của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, (The 2005 Pilgrimage and Return to Vietnam of Exiled Zen Master Thich Nhat Hanh, in Taylor P, ed. Modernity and Re-enchantment: Religion in Post-Revolutionary Vietnam), Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, pp. 297-341.

Fernando J và Heston A (1997): Vai trò của các tổ chức phi chính phủ: Từ thiện và Quyền hạn. (The Role of NGOs: Charity and Empowerment), Annals of the American Academy of Political and Social Science, vol. 554. Thousand Oaks, CA: Sage.

Fukuyama, Francis (2001): Xã hội Tư bản, xã hội dân sự và sự phát triển (Social capital, civil society and development, Third World Quarterly 22(1): 7-20.

Gray, Michael (1999): Thiết lập xã hội dân sự? Sự xuất hiện của các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam, (Creating Civil Society? The Emergence of NGOs in Vietnam) Development and Change 30: 693-713.

Howell, Jude và Jenny Pearce (2001): Xã hội dân sự và Sự Phát Triển Của Nó, (Civil Society and Development: A Critical Exploration) Boulder, CO: Lynne Rienner.

Huu Ngoc, ed. (2002): Tu dien Van hoa Co truyen Viet Nam (Dictionary of Traditional Vietnamese Culture). Hanoi: Nha xuat ban The Gioi.

Jamieson, Neil (1995): Tìm Hiểu về Việt Nam (Understanding Vietnam), Berkeley: University of California Press.)

Luong Van Hy (2005): Chính quyền, các đoàn thể địa phương, và hình thái dân sự ở nông thôn miền Bắc Việt Nam, (State, local associations, and alternate civilities in rural northern Vietnam in Weller R, ed. Civil Life, Globalization and Political Change in Asia: Organizing between the Family and the State), London: Routledge, pp. 123-47.

Madsen, Richard (1998): Thiên Chúa Giáo ở Trung Hoa: Thảm kịch và Hy vọng trong một xã hội dân sự vừa thành hình, (China’s Catholics: Tragedy and Hope in an Emerging Civil Society), Berkeley: University of California Press.

Nguyen Khac Vien (2002): Việt Nam: Một Lịch Sử Lâu Dài, (Vietnam: A Long History), Hanoi: The Gioi Publishers.

Nguyen Quang Vinh (2006): Các tổ chức dân sự ở thành phố Hồ Chí Minh (Civic Organizations in Ho Chi Minh City, in Heinrich Boell Foundation, Active Citizens under Political Wraps: Experiences from Myanmar/Burma and Vietnam. Chiang Mai, pp. 93-105.)

Norlund, Irene ed. (2006): Sự thành hình của xã hội dân sự : Một sự đáng giá bước đầu của xã hội dân sự ở Việt Nam, (The Emerging Civil Society: An Initial Assessment of Civil Society in Vietnam), Hanoi: CIVICUS.

Pham Ngoc Luan (2003): Dạy từ trái tim ở một trường Phật giáo, (Teaching from the Heart at a Pagoda School, Vietnam Cultural Window 59: 18-19.)

Putnam, Robert (1993): Để cho dân chủ thành công: Những truyền thống dân sự trong nước Ý hiện đại. (Making Democracy Work: Civil Traditions in Modern Italy), Princeton.

Soucy, Alexander (2007): Chủ nghĩa Quốc gia, Toàn cầu và sự tái thiết lập dòng Thiền Trúc Lâm ở miền Bắc Việt Nam, (Nationalism, Globalism and the Re-establishment of the Truc Lam Buddhist Sect in Northern Vietnam), in Taylor P, ed. Modernity and Re-enchantment: Religion in Post-Revolutionary Vietnam. Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, pp. 342-370.

Sulak Sivaraksa (2002): Phật giáo nhập thế, (Engaged Buddhism, Social Policy (Fall 2002), pp. 41-6.

Taylor, Philip (2007): Giới Thiệu”, (Introduction, in Taylor P, ed. Modernity and Re-enchantment: Religion in Post-Revolutionary Vietnam), Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, pp. 1-56.

Thich Nhat Hanh (1991): An Lạc Trong Từng Bước Chân, (Peace Is Every Step), New York: Bantam Books.

Thich Nhat Hanh và Daniel Berrigan (1975): Chiếc Bè không phải là bến đến ( The Raft Is Not the Shore: Conversations Toward a Buddhist-Christian Awarenes),. Maryknoll, NY: Orbis Books.

Tilly, Charles (1985): Các Mô hình và thực tại của những hoạt động tập thể phổ biến, (Models and Realities of Popular Collective Action, Social Research 52:4, 717-47.

Wells-Dang, Andrew (2007): “Kẻ Lạ mặt trên đường phố: Những tổ chức Tôn giáo Ngoại bang và sự phát triển ở Việt Nam”, (Strangers on the Road: Foreign Religious Organizations and Development in Vietnam, in Taylor P, ed. Modernity and Re-enchantment: Religion in Post-Revolutionary Vietnam) Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, pp. 399-444.

Wischermann, Joerg (2003): Việt Nam trong thời kỳ Đổi Mới, (Vietnam in the Era of Doi Moi: Issue-Oriented Organizations and their Relationship to the Government), Asian Survey 43(6): 867-889.)


[1] Chương trình Tiến sĩ, Phân khoa Khoa Học Chính Trị và Quan hệ Quốc Tế, Đại học Birmingham (UK).