(trở về mục lục)

Chánh niệm và Chánh nghiệp trong Giáo dục Thiền định: Tách rời thì có hại, Kết hợp thì có lợi

Giáo sư Gaylon Ferguson
Thành viên Hội đồng Giảng viên Khoa Nghiên cứu các Ngành học hữu quan
dành cho học vị Cử nhân (BA) và Cao học (MA), Đại học Naropa.

Bài tóm tắt

Bài tham luận này mở đầu bằng việc đề cập đến bài  pháp thoại đầu tiên nổi tiếng của Đức Phật, mà vốn trong pháp thoại ấy, Đức Phật đã công bố việc khám phá  Con đường Thánh đạo Tám ngành đi đến giải thoát. Sự trình bày có hệ thống ấy về tầm quan trọng của sự tu tập: Chánh kiến, Chánh ngữ, Chánh định, Chánh niệm, Chánh mạng v.v… thường được xếp dưới tiêu đề ba sự tu tập toàn diện (Tam vô lậu học) :“Đạo đức hoàn thiện” (Giới học - Sila), thâm nhập thiền định (Định học - Samadhi), và tri kiến hoặc trí tuệ (Tuệ học- Prajna). Lúc bấy giờ, đó là bài pháp thoại khai sáng một nền giáo dục chuyển hoá dành cho sự giáo dục con người toàn diện -- thân, khẩu, và ý, cùng với phạm trù nhận thức, cảm xúc và hành vi.

Tuy nhiên, như Giáo sư Berkeley Robert Sharf đã chỉ ra, sự chú trọng trong những hành giả Phật giáo phương Tây ngày nay, hầu như, đã đặt trọn vào mắt xích giữa của bộ ba hợp nhất ấy: chúng ta có khuynh hướng tập trung vào việc tu tập thiền định, trong khi lại gạt qua một bên các thách thức không kém phần quan trọng của sự học hỏi “chánh kiến” và sự tiến hành các khám phá thiền định của chúng ta trong cuộc sống có trách nhiệm về đạo đức này.

 Sự quan tâm đặc biệt có tính giáo dục của Đại học Naropa vào  sự thực hành đi vào chiều sâu của thiền quán, lẫn việc phục vụ các cộng đồng của chúng ta thông qua hoạt động từ thiện đã điều chỉnh sự mất quân bình ấy : “Mục đích giáo dục của Đại học Naropa không chỉ đơn thuần là việc  giáo dục thiền quán; mà nó còn nuôi dưỡng cho những ai mà việc làm tâm huyết của họ  như là sự chuẩn bị cho công tác từ thiện và công tác chuyển hóa  thế giới … Giá trị của giáo dục thiền quán được đo bằng khả năng vận dụng trí tuệ và sự quán chiếu của sinh viên Naropa vào việc thực hành thông qua hoạt động sáng tạo, hữu ích và hiệu quả”. Giáo dục thiền quán nhằm chuẩn bị và khuyến khích các sinh viên trong công tác của họ trên  thế giới, thiết lập các cộng đồng dựa trên vào yếu tố trong sáng, trí tuệ, và từ bi.

Bài tham luận này xét đến những nguy cơ trong việc tách rời thực hành thiền định, chánh niệm ra khỏi sự hội nhập có tính xã hội với thế giới và, ngược lại, tính vô hiệu quả về lâu về dài của hoạt động chính trị đã đoạn tuyệt với sự nhận chân về tổng thể vĩ đại hơn. Đây là vấn đề vừa mang tính cá nhân vừa mang tính văn hóa: là một người đã nguyện quy y Tam bảo với Thượng tọa Chogyam Trungpa năm 1973, tôi có thể nói bằng kinh nghiệm của bản thân về sự lầm đường lạc lối và sự cực đoan từ con đường đi đến sự lóe sáng một con đường “trung đạo” đích thực. Đồng thời, công trình (nghiên cứu) của Robert Bellah về chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, và sự khảo cứu thau đáo, tường tận của Christopher Lasch về căn bệnh tự ngã luyến ái[1] khoác áo văn hóa lan tràn, dường như ngày càng liên quan đến tất cả các cuộc hội thảo về trào lưu xã hội hiện nay. Vì vậy, giáo dục thiền quán nhắc nhở chúng ta rằng, thước đo đạo đức chân chính trong việc tu dưỡng của chúng ta là hoạt động từ thiện làm lợi lạc cho tha nhân.


[1] Narcissism: Hán dịch: tự ngã luyến ái, tự ái dục, hay tự ngã sùng bái, nghĩa là người bị bệnh tự yêu mê đắm chính mình, hay người bệnh tự  tôn sùng chính mình. Đây là một dạng của bệnh tâm thần. Theo thần thoại Hy-Lạp, Narcissus là một chàng trai rất đẹp, yêu bóng mình chiếu trong dòng suối đến nỗi thất tình mà chết, sau hóa thành loài hoa thủy tiên – narcissus. (chú thích của người dịch)