(trở về mục lục)

Giáo dục Phật giáo ở Nepal: nhìn về quá khứ và định hướng tương lai

Giáo sư Tiến sĩ Prem Kumar Khatry.
Khoa Văn hóa, Khảo cổ và Lịch sử Nepal, Trường Đại học Tribhuvan Kathmandu, Nepal
Thích Nữ Liên Trí (Ấn Độ) dịch

Giới thiệu

Văn học và những bia ký Phật giáo như bia ký của vua Asoka ở Lumbini và những nguồn tư liệu khác gọi Đức Phật là ‘Thế Tôn’. Thuật ngữ được dùng ở đây hoàn toàn khác với khái niệm thần linh truyền thống cho rằng Ngài là hiện thân của một vị thần hay là một bậc siêu nhân mà những người theo Ấn giáo tôn sùng thời bấy giờ. Thật ra, từ “Thế Tôn” (Bhagava) được dùng để chỉ sự tôn kính tối thượng mà các đệ tử dành cho Ngài. Trong mắt những người đệ tử, Ngài  là một con người  phi thường nhưng không phải là thần thánh hay siêu nhân.

Như HT. Tịnh Không (Tuyển Tập Tiếng Gọi Vô Thanh, Đài Loan) phát biểu, Phật giáo là một hệ thống giáo dục, một mô hình giáo dục cao nhất không chỉ hướng đến mà còn đảm bảo khả năng đạt được tự do khỏi mọi hình thức ràng buộc của những tội lỗi và thử thách do vô minh (Sanskrit: Avidya) mà ra. Ai cũng muốn thoát khỏi sự trói buộc của vô minh, nhưng điều này không phải là dễ dàng. Đức Phật đã dành cả cuộc đời mình để giúp nhân loại thoát khỏi vòng lẩn quẩn của vô minh và tự thân nỗ lực là một ví dụ sinh động cho chúng ta thấy rằng, bằng con đường giáo dục, con người có khả năng tự mình giải thoát ra khỏi vô minh. Có niềm tin vào chánh pháp nghĩa là chúng ta được đến trường học, rồi được dạy dỗ, có tâm từ ái, biết thương yêu và cuối cùng, đạt được sự hiểu biết thấu đáo rằng tất cả mọi chúng sanh đều bình đẳng đúng theo quan niệm của Đức Phật. Sự nghiệp của Đức Phật là sự nghiệp của một nhà giáo dục từ khi Ngài thành đạt đạo quả giác ngộ đến lúc nhập Niết-bàn. Xin dẫn lời của Hòa Thượng Tinh Không (sách đã dẫn, tr.121):

“Chúng ta đi tìm gì nơi Đạo Phật? Chúng ta đi tìm sự giác ngộ chân chánh tối thượng, sự toàn thiện, toàn giác (Annuttara-Samyak-Sambodhi). Đức Phật đã dạy và mong mỏi rằng tất cả chúng ta sẽ đạt được sự giác ngộ tối thượng này. Nói cách khác, mỗi người chúng ta sẽ trở thành một vị Phật.”

Ở đây, Đức Phật là một vị thầy vĩ đại, một vị thầy đưa ra những giải pháp có khả năng thực thi đối với những khúc mắc, nghi vấn trong mọi lãnh vực mà những người đi tìm con đường giải thoát đặt ra. Ai có cơ duyên tìm đến Ngài đều được giải đáp thỏa đáng và mở khai trí tuệ. Mục đích giáo dục của Ngài là trau giồi đạo đức, thiền định và trí tuệ. Ngài dạy rằng những người học Đạo không nên tìm cầu kiến thức có tính lý thuyết suông.  Do đó, Ngài cho rằng đạo đức và thiền định là nền tảng không thể thiếu để đạt được trí tuệ. Có vô số câu chuyện, sự việc và giai thoại mô tả Ngài là một vị Thầy rất dí dỏm, trình bày vấn đề hợp lý và thuyết phục. Ngay cả tình huống phải đối đầu với một người ương ngạnh hay cứng đầu trong các cuộc tranh luận hay pháp thoại, Ngài cũng không từ nan. Ngài có một năng lực phi thường và thiện xảo về ngôn ngữ, hành xử và ngay cả trong im lặng. Có nhiều vị luận sư cao tuổi và  nhiều kinh nghiệm, không tôn kính Ngài như một bậc thánh trong giáo pháp, đã phải nhìn lại vị trí của họ và cuối cùng đến quy ngưỡng Ngài. Đây chỉ là một ví dụ về sự phi thường của Ngài. Những lời dạy của Đức Phật dựa trên các nguyên tắc không bạo động, tôn trọng sự thật, bình đẳng, tương thân tương ái, công bằng và tôn trọng con người vốn được lịch sử từ trước đến nay chứng minh. Đây là lý do để những lời dạy đầy tính nhân văn và vượt thời gian tạo cho Ngài vị trí của một vị Thầy được tôn kính nhất thời bấy giờ.

Trải qua bao thử thách và đổi thay, những lời dạy vượt thời gian của Đức Phật được tiếp nhận theo nhiều hình thức và khuynh hướng khác nhau, ít nhất là 64 khuynh hướng theo các truyền thống. Mục đích chính trong những lời dạy của Đức Phật là hướng đến từ bỏ sự chấp ngã vốn là động cơ thúc đẩy con người tạo nghiệp để phục vụ cho lợi ích cá nhân. Do đó, Ngài đặc biệt quan tâm đến việc giải thoát khỏi tâm chấp ngã nhỏ nhen, phát triển thành tâm Phật rộng lớn để có thể từ bỏ thái độ sống ích kỷ chỉ biết bản thân mà tập mở lòng sống cho người khác. Đây là nền tảng của sự giác ngộ giải thoát. Với lý do căn bản này, lời Đức Phật dạy trở nên hiệu quả nhất và là chất xúc tác đưa đến sự thay đổi những đầu óc hẹp hòi, vô minh của bao người bình thường. Nhiệm vụ của Ngài là khai mở và đem ánh sáng đến cho những tâm hồn tăm tối. Ngài luôn thành công trong sứ mạng của mình. Đầu tiên, Đức Phật một mình trên bước đường hoằng hóa, nhưng chẳng bao lâu sau, Ngài quy tụ được nhiều Tăng Ni uyên thâm, nắm bắt được tinh túy trong lời dạy của Ngài. Thế là chư vị này chia nhau đi khắp mọi nẻo đường để xiển dương giáo pháp.

Từ một miền đất ôn hòa nơi Bắc Ấn, Đức Phật không mệt mỏi với sứ mạng quảng bá thông điệp về khổ và con đường thoát khổ đến với mọi người. Những lời dạy của Ngài có tiếng vang lớn gây ảnh hưởng đến mọi miền gần xa của đất nước. Mỗi lời Ngài thốt ra đều có giá trị, tỏa sáng và có năng lượng tạo nên năng lực kỳ diệu cảm hóa tất cả những người nào có cơ duyên gặp Ngài. Mội lời Ngài nói ra là một lời dạy mang ý tưởng giáo dục. Sau 2500 năm, những lời dạy của Ngài vẫn còn nguyên giá trị và đầy sức cảm hóa. Đây là một lý do hùng hồn cho sự lan truyền sâu rộng của Phật giáo đến ngày hôm nay.

Nepal và giáo dục Phật giáo

Đức Phật bắt đầu vận chuyển bánh xe giác ngộ từ Sarnath thuộc thành phố linh thiêng Varanasi vùng Bắc Ấn ngày nay. Theo kinh điển, Ngài dành trọn cuộc đời mình để truyền đạt những giáo pháp căn bản đến mọi giai tầng trong xã hội, từ dân thường đến vua chúa, từ thương gia đến nông dân, từ luận sư đến giáo sĩ, từ thanh niên đến phụ nữ. Tương truyền rằng Ngài đã từng đến thung lũng Nepal (Kathmandu) vào thời vua  Jitedasti, vua thứ bảy triều đại Kirata. Chắc chắn Ngài đã gởi chư tăng đến vùng đất Nepal này, theo tài liệu Mulasarvaastivad Vinayasangraha.  Như vậy, với sự nỗ lực của Đức Phật, những lời dạy của Ngài đã được truyền đến đất nước Nepal từ thời Phật còn tại thế. Chuyến về thăm vương quốc cộng hòa Shakya ở Kapilvastu là một phần trong sự nghiệp hoằng hóa của Ngài. Nhiều nam nữ, cả những người thuộc vương triều đã phát tâm theo Ngài và thực hành chánh pháp.

Khi Nepal bắt đầu củng cố thế lực chính trị vương triều theo Ấn giáo và cơ cấu văn hóa xã hội trên nền tảng này được thành lập; dù vậy, quần chúng Phật tử vẫn duy trì niềm tin và giáo dục Phật giáo trong giai đoạn lịch sử đầu tiên này. Các vua, thương gia và quý tộc xây nhiều chùa và các trung tâm Phật giáo ở thung lũng Kathmandu thời ấy nhằm truyền bá con đường giáo dục của Đức Phật trong xã hội.  Ngay cả những ông vua ủng hộ Ấn giáo cũng phải thường xuyên khuyến khích mọi người tôn trọng Phật giáo để nhờ đó mà cơ chế xã hội được ổn định. Đây là những ví dụ về bổn phận ‘kép’ trong niềm tin.

Thời hoàng kim trong quá khứ đã đi vào quên lãng

Những vị vua trị vì dòng họ Licchavi như Siva Deva, vua Narendra Deva và những vua kế nhiệm duy trì truyền thống giữ vững niềm tin bằng những công tác từ thiện và thể hiện tinh thần dấn thân chia sẻ. Nhiều tu viện được xây dựng để làm nơi tu tập cho Tăng, Ni và Phật tử. Người ta tìm thấy văn hóa tu viện được kéo dài liên tục trong thời đại Thakuri (cũng còn gọi là giai đoạn đầu của thời Trung cổ, khoảng thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ 15 sau tây  lịch). Thuật từ thường xuất hiện trong các văn bản đương thời là '…. samskārita vihara …'  cùng với tên của các vị vua cai trị thời ấy; điều này có thể được hiểu là các khu tu viện lớn luôn được tôn trọng hoặc phục hồi. Ngay cả trong thời kỳ khi chính thể của đất nước dường như suy sụp nhất về phương diện thống nhất đất nước, toàn vẹn lãnh thổ và củng cố quốc gia, cả hai nền văn hóa Ấn giáo và Phật giáo vẫn hưng thịnh. Điều này cho thấy rằng, chính dân tộc, không phải các nhà lãnh đạo, là người kiến tạo thật sự và cứu vãn một nền văn hóa.

Sự suy sụp nhanh chóng của văn hóa Phật giáo trên đất nước Ấn Độ đóng vai trò như một chất xúc tác quan trọng làm chuyển hướng vị thế của những tu viện ở Kathmandu thành những viện nghiên cứu đào tạo năng động và đầy sinh khí.  Đông đảo học giả, sinh viên và hành giả đến Nepal, nhiều người vượt dãy Hi-mã -lạp sơn đến tận Tây Tạng để thỏa mãn nhu cầu học hỏi của mình. Sự giao lưu văn hóa giữa Nepal và Tây Tạng góp phần làm phong phú nền văn hóa giao thoa của Nepal-Ấn Độ-Tây Tạng dưới hình thức chung là Phật giáo Mật tông. Những phong trào giao lưu tôn giáo và tu tập trong vùng núi Hi-mã-lạp sơn, giáo pháp và những cơ sở tu tập nối một nhịp cầu văn hóa qua dãy Hi-mã-lạp sơn. Nepal luôn là nơi quy tụ nhiều nhất những hoạt động như vậy.

Những ngôi chùa vùng thung lũng Kathmandu, phần lớn thuộc Kathmandu và Patan, trở thành trung tâm cho những hoạt động giáo dục năng động và sôi nổi, được duy trì với nội lực của vùng này.  Các trường phái Đại thừa và Kim Cang thừa phát triển tạo nên nền tảng triết học Phật giáo Mật tông và sự phát triển không ngừng về các phương diện nghi thức, nghi lễ, nghệ thuật và kiến trúc.  

Trong giai đoạn lịch sử này, nhiều người tìm cầu tri thức từ mọi nơi tụ tập về thung lũng cổ xưa và xinh đẹp của Kathmandu. Tất cả những người tìm về nơi này đều có chung một mục đích cao thượng:  tìm về cội nguồn của Phật giáo và trầm mình trong nguồn pháp nhũ của Đức Phật để rồi khi về lại xứ sở của mình, những vị này trước tác và giảng dạy giáo pháp của Đức Phật. Nhiều ngôi chùa ở các thành phố như Kathmandu, Patan, Pharping, Sankhu, v.v…  đáp ứng được nhu cầu lĩnh hội tri thức và thỏa mãn nguyện vọng của những học giả đến từ phương xa. Sau khi những trung tâm giáo dục Phật giáo Ấn Độ như Nalanda, Bikramshila, Ballabhi, Odantapuri, vv… bị các vua Hồi giáo phá hủy, giáo dục Phật giáo, cả phương diện triết lý lẫn tu tập đều lụi tàn. Tưởng chừng những lời dạy của bậc Đạo sư đã đến hồi chung cuộc.  Suốt giai đoạn giao thoa quan trọng này của lịch sử, Nepal đóng vai trò lớn của một trung tâm giáo dục và là nơi hội tụ của nhiều học giả tầm cỡ từ Bắc đến Nam. Bản chất và quy mô rộng lớn của giáo dục Phật giáo ở Nepal được đánh giá qua số lượng lớn các văn bản trước tác, các bản dịch và nhiều văn bản được lưu giữ, kể cả thư pháp được sáng tác và sử dụng ở thung lũng Nepal.  Thế nhưng, đã qua rồi một thời hoàng kim  của các tu viện Phật giáo ở Nepal, từng là niềm tự hào và phát triển đến đỉnh cao về chất lượng giáo dục, nay đã chôn vùi trong dĩ vãng.

Sự phát triển hiện nay trong lãnh vực giáo dục Phật giáo

Giáo dục chính quy trong Phật giáo không phải là điều gì mới, thế nhưng hình thức này mới được tu chỉnh lại sau thời kỳ Rana (1951). Về phương diện này, phải kể đến cống hiến của Tỳ-kheo Amritananda Mahasthavira. Vị Tỳ-kheo này cùng với những người tiền nhiệm trong triều đại độc quyền Rana (1846-1950)  đã chịu đựng khổ sở quá nhiều do tính chất phe phái và cố chấp của những nhà cầm quyền. Với tia hy vọng dân chủ vừa lóe lên, Thượng tọa Amritananda đã kiên trì vận động nguồn tài chính trong cũng như ngoài nước Nepal và bắt đầu tạo dựng các trường học và trung tâm giáo dục, chính quy cũng như không chính quy. Vị này cũng tuyển nhiều Tăng, Ni trẻ gởi đến các nước khác như Miến Điện, Tích Lan và Thái Lan để nghiên cứu triết lý Phật giáo. Hàng ngũ chư Tăng này về sau góp phần xây dựng nhiều trung tâm giáo dục ở Kathmandu và những trung tâm này hiện vẫn còn và đang hoạt động.

Cần có một trường Đại học làm nơi nương tựa

Cuộc cách mạng lịch sử của Phật giáo ở Nepal cho thấy Phật giáo cũng trải qua những bước thăng trầm ở xứ này. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của thời Trung cổ (sau năm 879), cả hai trường phái Đại Thừa và Nguyên Thủy tồn tại trong cách sống của những người quý tộc thành thị trong nhiều bộ phận dân cư người Newar ở thung lũng và các vùng đồi núi khác, vùng trũng nhiệt đới và các bộ tộc miền núi của Nepal.  Phật giáo đem đến cho con người con đường tâm linh và cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều công trình nghệ thuật. Nepal trong thời Trung cổ (879-1768) được coi là một kho tàng phong phú về các thư tịch Phật giáo cổ. Một nhu cầu cấp bách hiện nay là thành lập một trung tâm nghiên cứu văn hóa về nguồn cội Phật giáo và ảnh hưởng của Phật giáo đối với các nước và nền văn hóa đề cập ở trên. Phật giáo vùng Hi-mã-lạp sơn và Lạt-ma giáo đã nhanh chóng thu hút sự chú ý trên toàn cầu. Nepal là nước duy nhất hội tụ đầy đủ các trường phái Nguyên Thủy, Đại Thừa, Kim Cang Thừa, Mật Tông và những trường phái nhỏ khác cùng tồn tại và phát triển trong một thời gian dài. Thành lập một trung tâm nghiên cứu giáo dục có hệ thống là một nhu cầu ngày càng cấp bách. Đây là nhiệm vụ của những người được đào tạo khoa bảng.   

Cho đến bây giờ, Nepal đã tạo nhiều cơ hội nghiên cứu cho những cá nhân và tập thể nước ngoài đến đây. Ở trong nước, ngày càng có nhiều tổ chức nghiên cứu Phật giáo. Việc phiên dịch những văn bản Phật giáo cổ sang tiếng Newar và tiếng Nepal hay tiếng Anh là một hoạt động quan trọng trong những năm gần đây. Trường đại học Tribhuvan đã tạo điều kiện thuận lợi cho một số học giả và các nhóm sinh viên đến Nepal làm công tác nghiên cứu. Những hoạt động nghiên cứu này được những nghiên cứu trong lĩnh vực nghệ thuật và khảo cổ bổ sung và làm cho hoàn chỉnh hơn. Thật ra, trong lĩnh vực nghệ thuật,  Phật giáo còn giữ lại những tác phẩm bằng đá, đồng, gỗ và tranh họa từ trước tây lịch đến thời đại gần đây. Nghiên cứu trong những lĩnh vực này là một biểu hiện cho thấy nhiều người quan tâm tìm hiểu đến Phật giáo và góp phần quảng bá thông điệp của Đức Phật vượt xa hơn bờ cõi đất nước Nepal.

Bắt đầu khiêm tốn, bối cảnh lớn hơn

Trong thời đại nhiều nước, hoặc lớn hoặc nhỏ, tự hào Phật giáo là con  đường tâm linh định hướng cuộc sống thì Nepal, nơi Đức Phật đản sanh, coi Phật giáo là tôn giáo của nhóm người thiểu số. Một số nước khác, tuy không có quần chúng Phật tử địa phương, họ cũng đã đẩy mạnh giáo dục Phật giáo và được nhiều người biết đến. Tuy trễ nhưng cũng còn kịp, trường đại học Tribhuvan quyết định mở khóa học lấy chứng chỉ sau đại học tại phân khoa Phật học, thuộc khoa Lịch sử, Văn hóa và Khảo cổ Nepal từ năm 2000. Bây giờ, chương trình đào tạo này đã được nâng cấp thành khóa cao học.

Trong bối cảnh toàn cầu, Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới đã được các nước khắp năm châu biết đến. Nepal, Ấn Độ, Tích Lan, Afghanistan, Pakistan, Tây Tạng, Trung Quốc, Indonesia, Singapore, Malaysia, Lào, Cambodia, Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật, Mông Cổ và một số nước vùng Trung Á có lịch sử Phật giáo lâu đời và chất liệu Phật giáo ấy thấm nhuần trong đời sống của người dân, bao gồm nghệ thuật và kiến trúc, lễ hội và nghi thức. Lịch sử 2500 năm của Nepal đã gìn giữ những giá trị văn hóa đặc sắc biểu hiện qua các hình thức như nghi lễ, truyền thống và chuẩn mực đạo đức gắn liền với sự phát triển của Phật giáo.

Giáo dục Phật giáo cần có sự lãnh đạo

Những trung tâm giáo dục đào tạo sau đại học của Nepal, đã nhiều thập niên qua, không có giáo dục Phật giáo trong chương trình đào tạo. Gần đây, có sự tiến bộ trong lĩnh vực này.  Dưới đây là vài nét giới thiệu một số trường đại học có giáo dục Phật giáo trong chương trình đào tạo.

1. Trường đại học Tribhuvan (thành lập khoảng 1960)

Trường đại học Tribhuvan là trường đại học công lập xưa nhất do chính phủ Nepal thành lập để đào tạo sau đại học. Với hơn 200 cơ sở và trên 300 ngàn sinh viên, trường này trở thành trường đại học tầm cỡ  nhất Nepal, không những vậy nó còn là một trong những trường lớn nhất ở Đông Nam Á.  Hơn một thập niên qua, khoa Nhân văn của trường đã mở khóa học về giáo dục Phật giáo. Vài năm nữa, khoa  sẽ có những khóa  học lấy chứng chỉ cho sinh viên sau đại học. Tám năm qua, đã có chương trình đào tạo Cao học ở khoa Phật học tại trường này.

2. Trường đại học Siddhartha (thành lập năm 1997)

Trường đại học Siddhartha, một trường đại học dân lập được thành lập hơn một thập niên qua. Trường này có chính sách quy định và kế hoạch cụ thể cùng với nhiều hoạt động giáo dục khác. Tuy nhiên, nó chưa được chính phủ Nepal công nhận. Do đó, trường đại học Siddhartha là một công trình do cá nhân, Thượng tọa Tiến sĩ Sunanda Mahasthavira, một vị tu sĩ Phật giáo nguyên thủy nổi tiếng lập ra nhưng không nhận được sự hỗ trợ của các học giả Phật giáo cũng như trong cộng đồng ở Nepal. Cơ sở chính của đại học  Siddhartha nằm ngoài thủ đô thung lũng Kathmandu chừng 20 ki lô mét. Mặc dù trường đang quảng bá mục tiêu và kế hoạch trong tương lai, đây là một sự chuẩn bị không hoàn chỉnh và không công khai cũng như thiếu sự hỗ trợ của chính phủ trong giai đoạn đầu.

3. Trường đại học Phật giáo Lumbini  (thành lập 2005)

Trong nhiều thập niên qua, Phật tử và cộng đồng nghiên cứu Phật giáo ở Nepal kêu gọi việc thành lập một trường đại học để đẩy mạnh việc nghiên cứu Phật giáo và văn hóa.  Nhiều hội nghị chuyên đề, hội thảo quốc gia và quốc tế được tổ chức nhằm gây áp lực với chính quyền về việc này. Cuối cùng, chính phủ Nepal thành lập trường đại học Phật giáo Lumbini  khoảng ba năm trở lại đây với sắc lệnh trực tiếp của vua Nepal. Đây là một bước đáng mừng nhưng sự việc diễn ra trong thời điểm này có lẽ không được hợp thời lắm. Khi chính phủ mới được thành lập và điều hành quốc gia, tiếp theo sự suy sụp của nền quân chủ dường như có cái gì bất ổn đến ngôi trường này. Vì trường này được thành lập khi vua còn trị vì, rồi nó cũng bị thăng trầm với chính quyền cũng như không nhận được sự ủng hộ của dân chúng sau cuộc cách mạng. Hiện nay, chính phủ không hoàn toàn điều hành trường đại học này. Những người có chức năng được chính phủ chỉ định thấy khó có thể đưa ngôi trường vào hoạt động vì thiếu nguồn tài trợ từ chính phủ. Việc thành lập bộ phận quản lý và xây dựng chương trình đã được bàn đến trong ba năm qua. Trong tình trạng rối ren này, nhiều chương trình dưới đại học và đại học được tổ chức ở các trường đại học khác nhưng vẫn chưa thực hiện được ở trường Phật giáo Lumbini này. Mặc dù tình trạng trì trệ hiện tại, trường đại học này có tiềm năng phát triển thành một trung tâm nghiên cứu Phật giáo tầm cỡ nhất đất nước này. Chúng ta hy vọng rằng khi tình hình chính trị của đất nước ổn định, trường đại học Phật giáo Lumbini bắt đầu chuyển mình vươn lên với những chính sách giáo dục và tài chính cần thiết và hợp pháp, và có lẽ với bộ phận nhân sự quản lý mới. Toàn bộ giới nghiên cứu Phật giáo ở các trung tâm nghiên cứu và cộng đồng đều mong mỏi sự thay đổi này cũng như toàn bộ hệ thống tổ chức và giáo dục.

4. Trường đại học Kathmandu  

Trường đại học Kathmandu nằm gần thị trấn Banepa trên xa lộ cao tốc  Kathmandu-Lhasa. Đây là một trường dân lập có lịch sử trên một thập niên và có tiếng là đào tạo tốt ở nhiều ngành học. Một trung tâm nghiên cứu Phật giáo vừa mới thành lập ở trường này đào tạo chương trình Phật học cho sinh viên đại học, cơ sở đặt tại học viện Ranjung Yeshe thuộc tu viện Ka-Nying Shedrub Ling, nằm trong khuôn viên có ngôi tháp  lịch sử nổi tiếng của ngài Bouddhanath. Chương trình bắt đầu khóa đào tạo Phật học và nghiên cứu Tây Tạng cấp dưới đại học  từ năm 1997 và bây giờ, đã nâng cấp thành khóa đào tạo đại học. Những người tham gia khóa học chủ yếu là sinh viên phương Tây, những người đam mê nghiên cứu Phật học trong giai đoạn phát triển ở Nepal  và hưng thịnh ở Tây Tạng. Họ tập trung nghiên  cứu triết học Đại thừa và ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống hằng ngày.

5. Trường đại học Sanskrit Mahendra

Trường đại học Sanskrit Mahendra được thành lập với mục đích chính là khuyến khích nghiên cứu và duy trì văn học Sanskrit ở Nepal. Trước khi trường này được thành lập, những thanh niên thuộc giao cấp cao thường đến các trường đại học ở Bắc Ấn để học Sanskrit. Bây giờ, có trường đại học Sanskrit tại quê nhà, số lượng sinh viên sang Ấn Độ học giảm đi nhiều. Trong những năm gần đây, trường đại học Sanskrit Mahendra có chương trình đào tạo Phật học chủ yếu tập trung vào phương diện triết học Phật giáo. Tuy nhiên, sinh viên khoa này phần lớn đến từ các giai cấp cao của Ấn giáo như là bà la môn và tầng lớp giáo sĩ.

Như vậy, ít nhất có năm trường đại học đào tạo sau đại học ở Nepal có chương trình giáo dục Phật giáo. Ngoài ra, còn nhiều trung tâm tu viện và trường phổ thông ở Nepal cũng giảng dạy Phật học chính quy và không chính quy nữa. Phần lớn những trường này ở Kathmandu. Là một tôn giáo lớn thứ hai ở Nepal, một nhu cầu cần thiết và cấp bách của Phật giáo là phục vụ nhu cầu giáo dục và tâm linh cho đông đảo quần chúng Phật tử từ mọi miền đất nước bằng cách thành lập những trung tâm giáo dục Phật giáo. Vì Phật giáo không có biên cương, đất nước Nepal đang thu hút một lượng lớn những sinh viên ngoại quốc, những nhà nghiên cứu, tăng, ni, những người muốn nghiên cứu chuyên sâu triết học và văn hóa Phật giáo.  Điều này chắc chắn thực hiện được vì chúng ta tin rằng toàn thể nhân loại là một. Điều này đánh động tâm thức của nhân loại. Xin lấy trường hợp của nhà nghiên cứu Phật học  và Ấn Độ học nổi tiếng người Anh, giáo sư  Rhys Davids làm ví dụ ở đây. Davids có lần nói:

“Dù là Phật tử hay không phải Phật tử, tôi đã nghiên cứu các hệ thống tôn giáo trên thế giới, tôi không tìm thấy ở tôn giáo nào điều gì có thể vượt qua được sự toàn chơn và toàn mỹ trong Bát thánh đạo của Đức Phật. Tôi toại nguyện khép mình theo con đường ấy.” (Ratna Jinendra)

Thế nhưng, trong lĩnh vực nghiên cứu, một trường đại học Phật giáo nên được ưu tiên với một quốc gia đã từng được biết đến với sự đa dạng về văn hóa, xã hội và tôn giáo.  Một viện nghiên cứu như vậy vào thời điểm này là một điều rất cần thiết, khi cả thế giới nhìn về Nepal là nơi xuất thân của Đức Phật và Đạo Phật. Văn học Phật giáo cổ, ngôn ngữ và những bản cảo đã làm cho Kathmandu rực sáng thời Trung cổ đang đứng trước thảm họa mất đi không thể cứu vãn nổi. Cũng vậy, đang lâm vào nguy cơ hủy hoại của các di tích và khu vực khảo cổ Phật giáo, Nepal cần có những viện đại học có tầm cỡ nghiên cứu để gánh vác trách nhiệm thực hiện những công trình nghiên cứu bảo tồn và công bố các hoạt động nghiên cứu này. Những học viện nghiên cứu mới cũng cần có một hướng nữa như là thành lập phân khoa so sánh tôn giáo để nghiên cứu, so sánh các truyền thống và tôn giáo hiện hành trong nước. Nghiên cứu các truyền thống  này là điều cấp thiết để nâng cao các giá trị của một xã hội dân chủ.

Do vậy, đã đến lúc những học giả, cá nhân quan tâm và những người tín tâm hãy nắm chặt tay nhau, chung sức cùng với chính phủ Nepal và những viện đại học khác để thành lập và phát triển một trường đại học đầy đủ chức năng để khẳng định, một lần nữa, bản sắc dân tộc của Nepal. Đây không chỉ là một đất nước vùng núi Hi mã lạp sơn mà còn là một đất nước của những người Phật tử, người theo đạo Ấn giáo, Kitaras, Hồi giáo, đạo Sikh, Kỳ na giáo và Thiên chúa giáo, nơi mà các tôn giáo này không chỉ cùng tồn tại mà còn cùng nhau kiến tạo một đất nước hòa bình, thắm tình huynh đệ và an bình thịnh vượng.  

Với mục đích cao cả trong việc tạo ra một môi trường giáo dục cho các học giả Phật giáo và những người trong nước cũng như ngoài nước theo học chương trình sau đại học, chính phủ Nepal nên làm một việc công bằng, dù trễ, đối với hàng triệu người Phật tử ở Nepal bằng cách ủng hộ thực thi việc thành lập những viện đại học như vừa đề cập ở trên. Vào thời điểm mà duy trì và phát triển hòa bình vẫn đang bị đe dọa, việc thành lập các viện đại học như vậy sẽ góp phần làm đẹp hình ảnh một đất nước Nepal hòa bình thân thiện.

Giáo dục bình an – nhu cầu của thời đại

Bên cạnh việc nghiên cứu giáo trình thường xuyên trong việc điều hành các trường đại học, giáo dục bình an được xem là rất cần ở Nepal. Phương diện giáo dục này giúp mọi người nói lên được hiểu biết, kinh nghiệm, tấm lòng, nguyện vọng, ước mơ và cả thành kiến và nỗi sợ hãi của họ. Các học giả Phật giáo đã nói lên tiếng nói đó trong Hội Nghị Thượng Đỉnh Phật Giáo Thế Giới lần thứ II được tổ chức tại Lumbini hai năm trước đây. Học giả Karna Shakya cho rằng quá trình học là quá trình khơi dậy sự tỉnh thức và ý thức dấn thân của cá nhân bằng cách tạo điều kiện cho người học tham gia đối thoại trong cộng đồng. Quá trình học đó thúc đẩy khả năng phân tích, phê phán và khả năng chung sống an bình giữa các cộng đồng có quan điểm chính trị và niềm tin tôn giáo khác nhau.

Các học giả cho rằng giáo dục bình an hiệu quả phải là một chương trình giáo dục  có khả năng duy trì sự bình an lâu dài như là một diệu dược. Họ đặt vấn đề về lối sống thuần vật chất và thích tiêu thụ bị lôi kéo bởi xu hướng văn hóa toàn cầu. Trong tinh thần tôn trọng các nền văn hóa, học hỏi lẫn nhau và hòa nhập với văn hóa bản địa, chiến lược giáo dục có thể là một công cụ xây dựng một nền văn hóa toàn cầu an bình. Trong tiến trình nỗ lực xây dựng Thành Phố Hòa Bình của Thế Giới tại Lumbini, chúng ta cần tích cực thay đổi nếp nghĩ của con người trong các cộng đồng dân tộc thông qua giáo dục. Các nhóm cộng đồng địa phương đang sống và đối mặt với các tình trạng khủng hoảng đóng vai trò tích cực trong việc chuyển bạo động thành hòa bình. Nhằm hướng đến một tương lai an bình và thịnh vượng hơn cho Nepal, hoặc cho toàn nhân loại, giáo dục phải có động lực đưa những lý thuyết về hòa bình vào thực tiễn.

Cách đây vài năm, còn có một sự kiện khác nữa ở Lumbini. Đó là một hội thảo về “Sự tham gia của địa phương trong việc phát triển Lumbini” do Tổ chức UNESCO ở Nepal và Hiệp Hội Phát Triển Lumbini tổ chức. Bên cạnh những thiện chí và quyết định liên quan đến các vấn đề khác, Hội thảo đã thể hiện được trăn trở và sự quan tâm của các thành phần tham dự về sự đóng góp cần thiết của giáo dục trong quá trình phát triển. Các bài tham luận đã phản ánh sự thiếu nỗ lực của các cơ quan ban ngành liên quan (ngay cả Chính phủ và Hiệp Hội Phát Triển Lumbini) trong việc xây dựng trường Đại Học Lumbini như đã được đề khởi, đồng thời  nhấn mạnh việc cần thiết phải cụ thể hóa các ý tưởng về trường Đại Học Phật giáo Lumbini qua sự nỗ lực cộng tác của các tổ chức liên quan càng sớm càng tốt. Hội thảo cũng đặc biệt đề nghị tiến hành thúc đẩy sự hỗ trợ của các nước trong việc xây dựng một trường Trung học trong địa bàn này. Về tầm quan trọng của Lumbini trong du lịch và tâm linh, các bài tham luận và đại biểu tham dự cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển khu vực cả về phương diện vật chất lẫn phương diện tâm linh. Đức Phật, lần đầu tiên, thấy được sự rạng rỡ của thánh địa Lumbini; do đó, sự rạng rỡ của nền giáo dục do Ngài đề xướng cũng nên xuất phát từ thánh địa này. Vì vậy, chính phủ và các cơ sở giáo dục trong nước cũng như ngoài nước cần phải hợp tác với nhau để trường Đại Học Phật giáo Lumbini được phát triển và hào quang giáo pháp của Đức Phật được lan tỏa khắp muôn phương.

Với làn sóng mới về thay đổi xã hội và chính trị trên toàn quốc, Phật giáo đã trở thành chỗ dựa tinh thần thiết thực nhất ở Nepal. Nepal bây giờ đã trở thành một đất nước thế quyền trong đó Phật giáo là một tôn giáo lớn thứ hai sau Ấn giáo và có ảnh hưởng lớn đối với quần chúng tận các miền đồi núi xa xôi. Các nhà giáo dục cần nỗ lực hết mình để tiếp xúc với các cộng đồng này vì họ đã có niềm tin với Phật pháp nhưng chưa có cơ hội để học hiểu Phật pháp. Đây là một nhiệm vụ quan trọng trong một đất nước có nền dân chủ mới đang nở rộ.

Nếu các cơ sở giáo dục như các trường đại học nói trên, hay các tu viện, hoặc các học viện khác đi tiên phong trong việc phát triển giáo dục Phật giáo, thì các lĩnh vực khác cũng sẽ được phát triển. Đó là Phật giáo và Hòa Bình, Phật giáo và Giải trừ vũ khí, Bất bạo động, Nhân quyền, Phát triển, Công bằng xã hội, Ý thức quốc tế, Ý thức quan hệ văn hóa, Thái độ phi phân biệt chủng tộc, Môi trường, Phát triển bền vững,v.v.. Trong Hội Nghị Thượng Đỉnh Phật Giáo Thế Giới, giáo dục bình an được xem là thích ứng và cần thiết trong các học viện và các cơ sở giáo dục không khác gì trong môi trường giáo dục cộng đồng. Nhiều ý kiến ủng hộ quan điểm cho rằng giáo dục bình an phải được đan xen vào trong toàn bộ các môn học, kể cả các hoạt động ngoại khóa thay vì dạy giáo dục bình an như là một môn học riêng biệt. Bên cạnh giáo dục bình an chính quy trong nhà trường và đại học, giáo dục bình an cần được trải rộng trong các hình thức giáo dục quần chúng ở các giai tầng và bộ phận xã hội.

Tôi xin nhắc lại ở đây sự đóng góp của Thượng tọa Tiến sĩ Lâm từ Tu Viện Lumbini Việt Nam. Cách đây vài năm, Thượng Tọa đã một mình đứng ra vận động chấm dứt mâu thuẫn đang diễn ra ở Nepal và kêu gọi các nhà lãnh đạo các đảng phái hãy ngồi lại, trao đổi  và nói chuyện với nhau về những khó khăn mà họ đang đương đầu để tiến tới hòa bình và phát triển cho Nepal. Và Thượng tọa đã thành công trong nỗ lực này. Thượng tọa đề nghị các đảng phái liên quan nên đến Lumbini để bày tỏ những quan điểm khác nhau của mình. Việc này đã không diễn ra theo đề nghị nhưng đã làm cho các nhà lãnh đạo và nhiều người liên quan thay đổi cách nhìn trước thực trạng mất mạng tang thương của những người yêu hòa bình trong và xung quanh khu vực. Hiện nay tình trạng đã tốt hơn nhiều nhưng thỉnh thoảng chúng ta vẫn còn chứng kiến sự giết hại đan tâm quanh khu vực Lumbini cũng như một vài nơi khác ở Nepal. Thế giới vẫn đang nhìn Nepal giữa vũng máu, một thực trạng hoàn toàn trái nghịch với chủ trương giáo dục bình an của Đức Phật.

Hưng thịnh của quá khứ đi về đâu?

Điều gì đã đến với lịch sử, văn hoá và truyền thống tu viện ở Kathmandu khi những nhà thống trị của triều đại Malla Ấn giáo đầy quyền lực xuất hiện? Truyền thống văn hoá tu viện dường như đang dần dần suy tàn sau khi  Jayasthiti Malla lên nắm quyền. Người Malla là những người sùng tín nữ thần Taleju, một hộ thần trong Ấn giáo bên cạnh thần Vaishnavite và thần Saivite. Ở thời Trung cổ, truyền thống tu viện phát triển dưới sự lãnh đạo của các nhà sư và học giả khả kính. Tăng già có tổ chức chặt chẽ và được quần chúng Phật tử ủng hộ. Tất nhiên sự lãnh đạo đó đã không tồn tại trong các triều đại Malla sau này. Và do đó, tu viện dần dần mất đi truyền thống văn hoá sinh động, không có các nhà sư, học giả khả kính tới lui nữa. Trong khi đó Tây Tạng tiếp nối được truyền thống này từ Nepal trên các phương diện tôn giáo, triết lý, nghệ thuật và văn hoá - cả hình thức thể hiện lẫn nội dung tiềm ẩn. Khi quyền lực của người Malla mất về tay người Shah ở Gorkha, niềm tin tôn giáo dựa trên tinh thần bất bạo động cũng không được để ý đến. Giai cấp thống trị tin rằng đất nước có thể lớn mạnh bằng bạo động nên đã đánh chiếm các nước nhỏ và yếu hơn. 

Vào thời điểm này, Tây Tạng đã trở thành trung tâm của Phật giáo Mật tông với hàng ngàn trung tâm tu học. Người phương tây hầu như hoàn toàn không biết gì về sự đóng góp lớn lao của Nepal cho nền Phật giáo Tây Tạng. Họ nhìn hoạt động Phật giáo ở Tây Tạng mà quên đi đặc tính Phật giáo từ Nepal và gọi đó là ‘Phật giáo Tây Tạng’, rồi Nghệ thuật Tây Tạng, Tranh hoạ Tây Tạng, v.v… Ngày nay, tất cả những tu viện có chứng tích lịch sử ở Kathmandu chỉ còn lại một phần rất nhỏ so với sự huy hoàng ngày xưa; thế nhưng, không có một nỗ lực đáng kể nào từ chính phủ cũng như cộng đồng Phật tử nhằm khôi phục lại sự huy hoàng của những tu viện lịch sử đó. Trong khi đó, các tu viện thuộc truyền thống Phật giáo Đại thừa Tây Tạng ở Kathmandu thì lúc nào cũng sôi nổi với các sinh hoạt lễ hội cũng như học thuật. Phần lớn những tu viện này hoạt động bằng sự tài trợ từ phương Tây.

Nhu cầu cấp thiết: Xây dựng lại truyền thống Tăng-già

Tam Bảo - Phật, Pháp và Tăng – là ba trụ cột của tín ngưỡng Phật giáo. Tu viện được xây dựng và duy trì với sự đóng góp tích cực và hiệu quả của Tăng già nhằm truyền bá giáo lý của Đức Phật. Tu viện ở Nepal đã thực hiện được nhiệm vụ này trong một thời gian dài. Tuy nhiên, những tu viện này dần dần mất đi vai trò của mình. Tình trạng này có thể sẽ tiếp tục diễn ra. Để khôi phục lại văn hoá tu viện ở Kathmandu, trước hết Tăng già mà Đức Phật đã thiết lập cần được xây dựng lại và tạo sinh khí cho văn hoá tu viện vốn là bản sắc của cộng đồng Phật tử Newar ở thung lũng Kathmandu từ ngàn xưa. Một đoàn thể Tăng già chân chính có thể thực hiện được những việc mà ngay cả chính phủ cũng không thể làm được. Hiện nay, một số tu viện đang tổ chức các hoạt động nhằm làm sống lại các hoạt động ngày xưa. Như thế vẫn chưa đủ. Vậy, cần phải làm gì nữa? Các thành viên liên quan của Tăng già phải trả lời câu hỏi này. Đây là một vài đề xuất:   

  • Trước hết, tạo một môi trường tu học như ngày xưa
  • Lên kế hoạch trùng tu lại tu viện với lối trang trí trong ngoài hài hòa
  • Tạo đủ điều kiện thuận lợi cho Tăng chúng cư trú
  • Tăng già cần gắn bó chặt chẽ với tu viện và thực hiện các chức năng của mình.
  • Thường xuyên mở các khoá tu học tại các tu viện
  • Các trường đại học Phật giáo nên tổ chức các buổi hội đàm mang tính nghiên cứu
  • Tổ chức các lễ hội Phật giáo và tìm hiểu lịch sử của những ngày lễ đó
  • Duy trì hạ tầng cơ sở thật tốt

Để tìm lại sự huy hoàng và năng động một thời của các tu viện này, cần có những trách nhiệm và nỗ lực phi thường. Bài học mà chúng ta đã học được là không thể thừa kế các di sản văn hoá giống như cách chúng ta thừa hưởng gia tài của cha mẹ. Văn hoá đòi hỏi chúng ta phải có thái độ nhập cuộc, suy xét và ý thức cộng đồng. Dù vậy, chúng ta không thể nào làm sống lại một nền văn hóa đã qua.

Gần đây, một nhà chính trị, người đã âm mưu khơi dậy và tham gia lãnh đạo trong cuộc chiến tranh ở Nepal hơn 12 năm qua, đã nói với dân chúng rằng người Nepal không những cần Đức Phật mà còn cần Rana Jung Bahadur nữa – Rana là một nhà quân sự dùng vũ khí để cưỡng chiếm ngôi vua vào năm 1846. Rana và gia đình của mình đã thống trị đất nước và làm cho đất nước ngửa nghiêng hơn cả thế kỷ. Chế độ gia đình trị của ông là chế độ tồi tệ nhất trong lịch sử về các phương diện kinh tế, xã hội, văn hoá, công bình xã hội và hình ảnh đất nước Nepal trên trường thế giới. Tại sao nhà lãnh đạo này lại nghĩ đến Thủ tướng Rana vào thời điểm này? Hiểu động cơ của ông không phải là chuyện khó. Rana bảo thủ truyền thống quân sự và muốn duy trì quyền lực bằng quân sự.

Nhưng thời gian đã qua, hoàn cảnh đã thay đổi. Người Nepal đã quá chán ngán với tình cảnh huynh đệ tương tàn rồi. Họ chỉ cần một Đức Phật, một con người yêu chuộng hoà bình như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xưa. Giáo dục bình an của một vị Phật và sự thịnh vượng sẽ thường trụ trên thế gian này.

Để giáo dục bình an hiện hữu trong tương lai gần, chúng ta hãy cầu nguyện - Cầu nguyện Đức Phật sẽ tái hiện ở Nepal.

Và quan trọng hơn thế, Cầu cho khi thị hiện, Ngài không có một gien bạo động nào của Jung Bahadur Rana.

Bởi vì – Chúng ta cần Đức Phật, thật bình dị mà siêu việt và tràn đầy từ bi.

Chúng ta không thể tưởng tượng ra một Đức Phật với một cây súng SLR trên tay. Với Đức Phật và đệ tử của Ngài, chiến tranh không có chỗ đứng. Đức Phật là nhà cách mạng với tư tưởng sáng tạo và ảnh hưởng tích cực đến nhân loại. Ngài đấu tranh trong an bình, chống lại sự bất công, sự phân biệt kỳ thị và hành động ích kỷ. Sự đấu tranh ngày nay thì khác cả về bản chất lẫn ảnh hưởng của nó. Vì vậy, con người đừng bao giờ nghĩ đến sự đấu tranh như thế. Niềm tin sẽ thắng được lòng người; còn súng thì không. Tu viện nuôi dưỡng được niềm tin, do đó, nuôi dưỡng được lòng người. Bên cạnh những trường đại học như đã đề cập trên, chúng ta cần nhiều tu viện hơn nữa để truyền bá giáo lý của Đức Phật.

Chính phủ Nepal cần phải chú ý đến những điều mà các đại biểu, các học giả, những người thiện nguyện quốc tế đã mong mỏi trong các cuộc hội nghị tại Lumbini. Các vị ấy đã nhắc đi nhắc lại rằng một học viện cao cấp như trường Đại học Phật giáo chính là điều mà đất nước Nepal ngày nay cần phải có để giải quyết tất cả những vấn đề mà họ đang đối mặt để tiến đến ổn định và hoà bình. Họ đã hứa sẵn sàng ủng hộ một khi công việc bắt đầu. Và sau nhiều năm, bây giờ chúng ta đã có trường Đại học Phật giáo Lumbini nhưng trường chưa đi vào hoạt động như mong muốn. Người Phật tử Nepal cứ vờ đi như thể chưa từng có một Đại học như thế. Các trường Cao Đẳng không có thiện ý liên kết. Những nhà chủ trương chính sách của chính phủ và dân chúng Nepal phải biết rằng một trường Đại học Phật giáo ở Lumbini sẽ có ý nghĩa lớn trong việc đưa Lumbini trở thành một biểu tượng của sự Hành Hương về Hoà Bình cho tất cả mọi người. Việc này cũng sẽ tạo nên sinh khí mới trong lĩnh vực du lịch tâm linh của khu vực. Và cuối cùng, đây quả là sự bức xúc nếu chính phủ và Phật tử Nepal không quan tâm ủng hộ để đưa trường đại học Phật giáo ở đây lên một tầm cao xứng đáng.

Để kết thúc bài tham luận này, tôi mong mỏi cộng đồng Phật giáo thế giới, hãy đến thăm đất nước Nepal, xác định nhu cầu và phạm vi của giáo dục Phật giáo và cùng nỗ lực chung sức chung lòng để thúc đẩy  giáo dục Phật giáo, cả chính quy và không chính quy ở nơi này. Nhiều phạm vi cần được nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực này còn bỏ ngõ. Cùng chung tay góp sức, chúng ta sẽ cống hiến rất nhiều cho sự hòa hợp giữa những người Phật tử cũng như người không phải Phật tử. Hơn nữa, giáo lý của Đức Phật nhằm phục vụ giá trị nhân văn và không có một giới hạn ngăn ngại nào trong ý nghĩa của từ “nhân văn” cả.       

Cuối cùng, tôi thành kính  ngưỡng mong Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni hộ trì cho tất cả chúng ta dám nhận lãnh trách nhiệm và dấn thân vào công việc cao cả là đọc đi đọc lại những lời Ngài dạy, áp dụng những lời dạy này trong đời sống hằng ngày, làm tất cả những gì cần thiết để chuyển hóa bao nỗi khổ niềm đau cho người khác.

Tôi thành tâm đảnh lễ và tỏ lòng tôn kính đến chư Tăng, Ni và tất cả pháp hữu hiện diện trong hội nghị hôm nay.

Ngưỡng mong Đức Phật Tổ gia hộ cho tất cả chúng ta trong ngày lễ Vesak thiêng liêng này!

Mong rằng trong dịp lễ kỷ niệm lần sau, chúng ta lại có duyên hội tụ tại một nơi nào khác, nhưng nhiệm vụ và mục đích vẫn không thay đổi!

Mong chúng ta có được trí tuệ và nhận lãnh trách nhiệm truyền bá giáo pháp của Đức Phật!

Mong thế giới bình an, mãi mãi bình an!

 

Tài liệu tham khảo: 

Jinendra, M.R. Ratna, 2002. One Hundred Years of Western Scholarship. In the World of Buddhism, Prof. ADTE Perera, Ed in Chief, Sri Lanka Cultural Research Publications, Sri Lanka, Vol. 15, No. 1, (2001-2002), pp. 20-22.

Shakya, Karna, 2004. Lumbini World Peace City – The Vision and the Perspective. A theme paper presented to the Second World Buddhist Summit, Lumbini, Date 30th Nov-2nd Dec, 2004.

Khatry, Prem, 2007. Buddhism in Higher Education: Needs of Roots and Wings, The Rising Nepal.

… 2005.  Buddhist Education in Nepal: Context, Challenges and Possibilities. Himpat (monthly Nepali journal), Miss Lila Gurung, Chief Editor, Siphal, Kathmandu, pp. 17-20.

… 2008, The declining trend of Vihara culture in Kathmandu, The Rising Nepal, Feb.

Kung (Venerable), Master Chin, n.d.  The Collected works of Ven. Master Chin Kung. (Trans.: Silent Voices). Taipei, Taiwan: The Corporate Body of the Buddha Educational Foundation

Ranjung Yeshe Institute, Bouddha, Kathmandu. Brochures and information materials