(trở về mục lục)

Bản Hiến chương Ename về giải nghĩa và giới thiệu các di sản văn hóa: Khởi xướng, phát triển và áp dụng trong tương lai

Claudia Liuzza, Ename Center, Bỉ
Nữ Phật tử Thu Thủy dịch

GIỚI THIỆU

COMOS, Uỷ Ban Quốc Tế về Di Sản (the International Council of Monuments and Sites), kể từ khi thành lập đã góp phần thúc đẩy công tác bảo tồn và bảo vệ di sản văn hoá trên toàn thế giới. Công tác này có thể thực hiện thông qua việc phổ biến các hướng dẫn và các hiến chương liên quan tới các vấn đề di sản cụ thể. Những hướng dẫn này tập trung vào các vấn đề bảo tồn cụ thể và tăng cường công tác truyền thông đại chúng về tầm quan trọng của di sản văn hoá đến công chúng rộng rãi hơn. Nhiều bản hiến chương nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ công tác bảo tồn di sản, ví dụ tài liệu về tính xác thực Nara (Nara Document of Authenticity)  năm 1994; Hiến Chương Burra (Burra Charter) năm 1999; Hiến Chương Quốc Tế về Du Lịch Văn Hoá (International Charter on Cultural Tourism), năm 1999 và Các Quy Tắc Bảo Tồn Các Di Sản tại Trung Quốc (Principle for the Conservation of Heritage Sites in China) năm 2002. Tuy nhiên, không có văn bản cụ thể nào được viết  ra nhằm “Định nghĩa các nguyên tắc cơ bản của việc giải nghĩa và giới thiệu là những thành tố thiết yếu trong nỗ lực bảo tồn di sản và là một phương tiện tăng cường sự thừa nhận và thấu hiểu các di sản văn hoá”, đây chính là điều mà Hiến chương Ename nhắm tới. Hiến chương ICOMOS đề xuất là kết quả của một quá trình rà soát hơn năm năm mà cuối cùng hy vọng sẽ được thông qua trong năm nay tại Đại hội đồng ICOMOS (ICOMOS General Assembly) tại Quebec, Canada. Tôi sẽ phác thảo giai đoạn đầu của quá trình khởi xướng mà đã bắt đầu bằng việc liên kết với dự án di sản công tại Bỉ và từ đó đã dẫn đến việc sáng lập một trung tâm nghiên cứu đầu tiên (Trung tâm giới thiệu khảo cổ học và Di sản Ename – The Ename Center for Public Archaeology and Heritage Presentation) và một Uỷ ban khoa học quốc tế chuyên trách trong ICOMOS (Uỷ ban quốc tế về giải nghĩa và giới thiệu – ICIP, International Committee on Interpretation and Presentation), với nhiệm vụ điều phối giữa các cơ quan thực hiện bản cuối cùng của Hiến Chương Ename. Cuối cùng là một số sự phát triển tương lai và hoạt động liên quan tới Hiến Chương như dự án Hiến Chương Ename (Illustrated Ename Charter Project) sẽ được thảo luận.

DỰ ÁN ENAME 974

Những bước đầu tiên của quá trình khởi xướng này được bắt đầu thực hiện tại Bỉ trong những năm 1980. Tại một ngôi làng cách thành phố Ghent 25km về phía nam, thuộc thủ phủ East-Flander, một dự án về khai quật khảo cổ, nghiên cứu và giới thiệu di sản phổ biến thời Trung cổ khởi xướng thông qua một dự án do địa phương tài trợ có tên là Dự Án Ename 974. Việc khởi xướng sáng kiến này là kết quả của quá trình hợp tác giữa khu khảo cổ nhà thờ của cộng đồng Flemish, Bỉ và tỉnh East-Flanders. Làng Ename gồm phần sót lại của tu viện thánh Benedic (Benedictine), di sản của nhà thờ thánh Laurentius và một khu bảo tồn thiên nhiên.

Kết quả của dự án là các sáng kiến kỹ thuật giới thiệu (trình bày) bằng máy tính nhằm giải thích cho người xem hiện trường khảo cổ của tu viện thời Trung cổ mà không cần dựng lại mô hình vật thể, hiện trường được biến đổi thành một bảo tàng ngoài trời. Nhà thờ thời Trung cổ được nghiên cứu và một ứng dụng tương tác được cài đặt để giải thích với công chúng về quá trình lịch sử và phát triển của nhà thờ.

Một bảo tàng cũng được mở cửa và đặt tại một ngôi nhà lịch sử tại địa phương nhằm giới thiệu cuộc sống thường nhật của cộng đồng Ename từ đầu thời kỳ Trung cổ cho đến nay. Bảo tàng cũng giới thiệu một phòng thí nghiệm khảo cổ Archeolab, nơi khách tham quan có thể học các phương pháp khoa học khác nhau ứng dụng trong nghiên cứu khảo cổ học và lịch sử và các kỹ thuật trình bày dựa trên đặc điểm tương tác. Hệ thống này được gọi là Bữa Tiệc Ngàn Năm (Feast of a Thousand Years), là một câu chuyện tương tác cho phép khách viếng thăm lựa chọn các mục tiêu kết kết nối với một đặc tính lịch sử nào đó và đặt chúng vào một bối cảnh dễ hiểu, nó sẽ tạo ra một cuộc sống mới và có ý nghĩa đối với mục đích cổ xưa.

Bảo tồn thiên nhiên đóng vai trò đáng kể đối với giá trị sinh thái và có thể được nhận ra thông qua du lịch giáo dục có tổ chức. Dự án đã đưa ra quan điểm chính thống về di sản địa phương với việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật tiến bộ và có sự đóng góp của cộng đồng địa phương, những người đã tích cực tham gia và tư vấn trong suốt quá trình dự án



Hình 1: Tái hiện mô hình hiện trường khảo cổ làng Ename

TRUNG TÂM ENAME VÀ KHỞI XƯỚNG HIẾN CHƯƠNG ENAME

Qua nhiều năm, nhóm dự án đã tổ chức nhiều hội thảo và phát triển các kỹ thuật mới nhằm giới thiệu các hiện trường khảo cổ và lịch sử, quá trình này đã làm nền tảng cho việc thành lập một trung tâm nghiên cứu lâu dài dựa vào hiện trường dự án trong năm 1998, với cái tên Trung tâm giới thiệu khảo cổ học và di sản Ename. Mục đích thành lập của trung tâm là xây dựng và phổ biến những ưu việt liên quan tới việc giải nghĩa và phát triển bền vững các hiện trường khảo cổ, bảo tàng, di tích lịch sử và các danh thắng tại Falander và các vùng liên quan trên toàn thế giới.

Trong nhiều năm, một loạt các cuộc họp và hội thảo đã được tổ chức tại Ename và mục tiêu thảo luận về nhu cầu cần có các tiêu chuẩn về giải nghĩa và giới thiệu ra công chúng đã rõ hơn và tập trung hơn. Mùa xuân năm 2002, một bản dự thảo khởi đầu đã được các nhân viên của Trung tâm Ename phác thảo với sự tư vấn của các học giả quốc tế. Trong số họ có ngài cựu Tổng thư ký ICOMOS Jean-Louis Luxen, người đã gợi ý ICOMOS là một Học Viện Quốc Tế phù hợp nhất trong việc xây dựng một bản hiến chương về giải nghĩa và trình bày. Bản dự thảo đầu tiên được cấu trúc thành các phần hướng dẫn chuyên môn và cụ thể, lập kế hoạch ngân sách và quản lý; các khía cạnh du lịch và giáo dục di sản. Chủ đề chính của bản dự thảo và vai trò của di sản được chuyên môn hoá trong chiến lược lồng ghép lập kế hoạch di sản được bàn thảo.

 Bản dự thảo đã được gửi tới các chuyên gia quốc tế trước khi hội nghị về Di sản, Công nghệ và Phát triển địa phương (Heritage, Technology and Local Development) được tổ chức tại Ghent vào Mùa Thu năm 2002. Các ý kiến đóng góp được đưa vào bản chỉnh sửa và được thảo luận trong một hội thảo do dịch vụ công viên quốc gia Hoa Kỳ tổ chức tại Washington tháng 11 năm 2002. Ý kiến phản hồi của các thành viên tham gia hội thảo đã khẳng định sự cần thiết ra đời của một bản hiến chương mới về giải nghĩa và giới thiệu. Ông Giám đốc điều hành ICOMOS Hoa Kỳ cũng cho rằng ICOMOS là cơ quan phù hợp nhất có thể đảm trách nhiệm vụ này.

Hình 2: Trang Web của Hiến chương Ename (http://www.enamecharter.org/index.html).

Tháng 1/2004, ban điều hành ICOMOS khẳng định việc rà soát bản Hiến Chương ngày nay gọi là Hiến chương ICOMOS-Ename sẽ được một nhóm biên tập gồm các chuyên gia quốc tế của ICOMOS và các thành viên của trung tâm Ename thực hiện. Ban biên tập mới này sẽ tái cấu trúc bản hiến chương thành bảy nguyên tắc chung liên quan tới: Nhận thức và Truyền thông; Bằng chứng; Bối cảnh và Xây dựng; Tính xác thực; Tính bền vững; Tính bao quát; Nghiên cứu, Giáo dục và Đào tạo.

Bản dự thảo mới đã được tất cả các Ủy ban khoa học quốc tế ICOMOS và các chuyên gia quốc tế khác rà soát từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2004. Sau quá trình trình rà soát này, một bản dự thảo mới được gửi tới tất cả các Uỷ ban ICOMOS quốc gia, các ý kiến đóng góp của họ góp phần xây dựng một bản dự thảo mới (Bản dự thảo số 3, ngày 23/8/2004). Trong cuộc họp của ban cố vấn và điều hành tổ chức tại Bergen, Na Uy các thành thành viên đã khuyến nghị cần có thêm thời gian cho các thành viên ICOMOS để đánh giá bản hiến chương mới đề xuất, quá trình đánh giá này được thực hiện từ Mùa Đông tới Mùa Xuân năm 2005.

Tháng 5/2005, trong Hội thảo chuyên đề quốc tế lần thứ 8 của ICOMOS Hoa Kỳ, bản đề xuất hiến chương Giải nghĩa ICOMOS đã được các thành viên tham gia thảo luận và góp ý, các thành viên này cũng xây dựng một bản tuyên bố hỗ trợ hiến chương. Ý kiến đóng góp của họ cũng được đưa vào bản dự thảo tiếp theo, Bản dự thảo hiến chương số 4 (ngày 5/7/2005)

Qua quá trình rà soát và suy ngẫm liên tục về Bản hiến chương, nhu cầu có một cơ quan đỡ đầu chính thức hơn cho ICOMOS đã không còn nữa, do đó dẫn đến việc thành lập một Uỷ Ban Khoa Học Quốc Tế chuyên trách về giải nghĩa và giới thiệu (ICIP), cơ quan này chính thức được Ban điều hành ICOMOS thông qua trong Đại hội lần thứ 15 tại Xi’an, Trung Quốc vào tháng 10/2005.



Hình 3: Trang web của Uỷ Ban Quốc Tế về Giải nghĩa và Giới thiệu The ICOMOS (ICIP) (http://icip.icomos.org).

Tháng 8/2006, các thành viên của ICIP đảm trách và tiếp tục quá trình rà soát bản đề xuất Hiến chương ICOMOS về giải nghĩa các di sản văn hoá như một hoạt động chính thức của Ủy ban này. Bản dự thảo chỉnh sửa lần thứ 4 (ra ngày 31/7/06) đã được phát cho các thành viên của uỷ ban để đóng góp ý kiến. Kết quả của quá trình này cùng với góp ý của các thành viên Hội đồng cố vấn ICOMOS trong cuộc họp tổ chức tại Scotland tháng 9/2006 được đưa vào Bản dự thảo số 5. Các ý kiến đóng góp nhận được sẽ đưa vào xây dựng Bản dự thảo số 6. Trong bản lần rà soát cuối cùng này, phần văn bản chính đã được hoàn thiện. Sau kỳ họp thường niên lần thứ hai của ICIP vào tháng 3/2007, bản đề xuất cuối cùng đã được xuất bản (ngày 10/4/2007). Uỷ ban đã bỏ phiếu và thông qua phần văn bản chính và đệ trình lên cuộc họp Ban điều hành tại Pretoria tháng 10/2007. Ngay sau đó, bản dự thảo cuối cùng được chính thức đệ trình lên Ban điều hành ICOMOS nhằm xem xét và quyết định liên quan tới việc giới thiệu phê chuẩn tại cuộc họp lần thứ 16 của Đại hội đồng ICOMOS tại Quebec. Phần văn bản chính của hiến chương đã chính thức được Hội đồng khoa học ICOMOS (gồm Hội đồng cố vấn và ban điều hành ICOMOS quốc tế  thông qua). Việc này đã chính thức mở đường giới thiệu bản hiến chương nhằm thông qua trên trường quốc tế sẽ diễn ra trong cuộc họp của Đại hội đồng ICOMOS sắp tới vào tháng 9/2008 tại Quebec, Canada.

BẢN HIẾN CHƯƠNG ENAME NGÀY NAY

Bản dự thảo cuối cùng của hiến chương, đề ngày 10/4/2007, là một tài liệu đề cập tới các hoạt động chính của việc giải nghĩa và giới thiệu di sản. Trước đây được định nghĩa là “Tất cả các hoạt động tiềm năng nhằm nâng cao nhận thức và tăng cường sự hiểu biết về di sản văn hoá cho công chúng” và sau này là “Việc truyền thông được lập kế hoạch chu đáo về nội dung giải nghĩa thông qua việc sắp xếp các thông tin giải nghĩa, tiếp cận vật thể (thực thể) và cơ sở hạ tầng phục vụ giải nghĩa tại điểm di sản văn hoá.”

Bảy nguyên tắc được chia ra theo các mục đích rõ ràng và liên quan tới các toàn thể các vấn đề cần giải nghĩa.

Nguyên tắc thứ nhất, Tiếp cận và Nhận thức, đề cập tới cả việc tiếp cận vật thể và trí tuệ, mà mục đích của họ là nhằm tăng kinh nghiệm cá nhân, tạo các mối liên kết với điểm di sản và nâng cao sự hiểu biết và tôn trọng của công chúng đối với di sản. Hơn nữa, nhận thức cần được đưa ra xem xét trên phương diện nhân khẩu học và phương diện văn hoá có xem xét đến các độc giả và sự nhạy cảm văn hoá khác nhau, điều này có thể giới hạn mức độ sử dụng và giải nghĩa trên tại điểm di sản.

Nguyên tắc thứ hai, Nguồn thông tin, đề cập tới tính thiết yếu của các chương trình thông tin giải nghĩa không chỉ từ các nghiên cứu khoa học mà còn từ các truyền thống văn hoá sinh hoạt. Những nguồn thông tin này cần dễ tiếp cận đối với công chúng và sau này có thể dùng làm nguồn thông tin tham khảo. Cuối cùng, các giả thuyết lịch sử khác và các truyền thuyết cần được kết hợp chặt chẽ thông qua sự tham gia của các thành viên trong cộng đồng.

Nguyên tắc thứ ba, Bối cảnh, đề cập tới các bối cảnh rộng rãi về xã hội, văn hoá, lịch sử và tự nhiên cần được xem xét trong các chương trình giải nghĩa. Việc này gồm sự đóng góp không chỉ của các giai đoạn lịch sử và các nhóm văn hoá khác nhau mà còn có các yếu tố vô hình cũng như ý nghĩa giao thoa văn hoá của một điểm di sản văn hoá.

Nguyên tắc thứ tư, Tính xác thực, đề cập tới tầm quan trọng của cấu trúc giải nghĩa nhằm tôn trọng các chức năng xã hội truyền thống và các thói quen văn hoá của một di sản văn hoá. Do vậy cần  cố gắp hết sức nhằm tránh mọi thay đổi không thể sửa chữa được đối với các cấu trúc vật thể và làm xáo trộn đến cuộc sống của cư dân địa phương.

Nguyên tắc thứ năm, Tính bền vững, đề cập tới các tác động xấu có thể xảy ra của các chương trình giải nghĩa và tác động tới cơ sở hạ tầng về môi trường văn hoá và tự nhiên của điểm di sản. Cần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lập kế hoạch phù hợp đảm bảo duy trì hiệu quả và thường xuyên cơ sở hạ tầng và đảm bảo các lợi ích công cho tất cả các bên liên quan.

Nguyên tắc thứ 6, Tính bao quát, đề cập tới thực tế các chương trình giải nghĩa có sự tham gia của cả các học giả, các nhà chuyên môn về di sản, các bên liên quan và các cộng đồng liên đới. Điều này cũng có nghĩa rằng phương pháp tiếp cận đa ngành nhằm nghiên cứu và kêu gọi sự tham gia của quần chúng trong việc mở rộng và điều chỉnh các chương trình giải nghĩa có sự quan tâm đặc biệt tới các vấn đề về tài sản trí tuệ và về quyền văn hoá truyền thống.

Nguyên tắc thứ 7, Nghiên cứu, Giáo dục và Đào tạo, đề cập tới tính cần thiết của việc chỉnh sửa, rà soát và đánh giá mọi chương trình giải nghĩa mà không bao giờ được coi là đã giải nghĩa hết ý nghĩa của di sản văn hoá. Quá trình này cần có sự tham gia của tất cả các bên liên quan, và công tác đào tạo cần được xem như một hoạt động thường xuyên và năng động trong quá trình học chính thức và không chính thức.

KẾT LUẬN

Mục tiêu của Bản hiến chương Ename nhằm xác định các mục đích cơ bản và các nguyên tắc giải nghĩa điểm di sản liên quan tới tính xác thực, hoà nhập về mặt tri thức, trách nhiệm xã hội và nhằm tôn trọng ý nghĩa và bối cảnh văn hoá. Bản hiến chương không nhằm mục đích đặt ra nội dung cụ thể của mỗi chương trình giải nghĩa. Nó thừa nhận việc giải nghĩa các điểm di sản văn hoá có thể gây tranh cãi và có thể có những bất đồng cũng như cần có sự đóng góp từ các giai đoạn lịch sử khác nhau. Phần còn lại của bản hiến chương là giải nghĩa về hoặc tại khu vực lân cận của các điểm di sản văn hoá thậm chí các mục đích và nguyên tắc có thể được áp dụng để giải nghĩa ngoài vùng di sản. Bản hiến chương khuyến khích việc quảng đại công chúng thừa nhận các điểm di sản văn hoá  là những nơi và là các nguồn học tập và phản ánh quá khứ cũng như các nguồn lực giá trị nhằm phát triển cộng đồng bền vững và phục vụ đối thoại giữa các nền văn hoá và qua nhiều thế hệ. Quá trình ra đời liên tục của bản hiến chương, các phản hồi và thảo luận đáng ghi nhớ được đưa ra thông qua quá trình khởi xướng tại nhiều bối cảnh quốc tế cho thấy rất khó để tiếp cận với những chủ đề theo phương pháp tiếp cận từ trên xuống và ngược lại, cần thiết phải có sự tham gia cộng đồng toàn cầu trong vấn đề di sản, con người, văn hoá và xã hội. Các kết quả và tác động của bản hiến chương không chỉ phụ thuộc vào các viện nghiên cứu hoặc các phương pháp áp dụng chính thống mà còn phụ thuộc vào khả năng của các cộng đồng địa phương trong quá khứ, ở hiện tại cũng như trong tương lai.

Bản hiến chương hiện nay đã trải qua nhiều đợt rà soát nhằm chỉnh sửa các nguyên tắc sao cho phù hợp với đông đảo người đọc khi xem xét sự khác nhau về địa lý và văn hoá. Tuy nhiên, để có thể ứng dụng được tốt hơn, bản hiến chướng cần được tạo ra dưới dạng một phiên bản có minh hoạ và đây sẽ là một trong những hoạt động chính mà ICIP sẽ thực hiện trong những năm tới. Phiên bản có minh hoạ này có thể tiếp cận vấn đề theo phương pháp từ dưới lên, từ các nghiên cứu trường hợp, từ các ví dụ thực tế, các vấn đề, các cơ hội và các điểm yếu.

Dự án nhằm thu thập các nhiên cứu trường hợp liên quan trên toàn thế giới mà có thể diễn tả tốt nhất các nguyên tắc của bản hiến chương Ename. Trước tiên đã có một đợt phát động trong nội bộ các thành viên của ICIP và trong các tháng tới sẽ có nhiều đợt phát động khác. Mục đích của các đợt phát động nhằm xây dựng một cơ sở dữ liệu các dự án và các khởi xướng mà sau đó sẽ được đặt trực tuyến trên trang web của ICIP để tư vấn và tham khảo. Công tác phân tích định lượng và định tính trong cơ sở dữ liệu tập hợp các nghiên cứu và các dự án di sản trong hiến chương Ename sẽ cho phép giám sát các hoạt động này và là tiền đề tạo ra các kết quả có giá trị.

ICIP cũng sẽ thúc đẩy việc áp dụng bản hiến chương trong các dự án giải nghĩa mới và tìm kiếm các dự án nghiên cứu phù hợp nhằm áp dụng các nguyên tắc giới thiệu và giải nghĩa di sản.

Di sản không thể đúc kết trong một biểu mẫu được chuẩn hoá mà nó là một vấn đề mở không ngừng chưa được khám phá và đang vận động trong quá trình toàn cầu hoá diễn ra rất nhanh và khó kiểm soát. Di sản có thể mở ra những bối cảnh và khung cảnh mới nhưng chúng ta phải tìm các để hiểu những gì đang điễn ra nhằm tái hiện, giải nghĩa và giao tiếp với những hiện tượng này vì lợi ích của các thế hệ tương lai.

Tài liệu này với mong muốn mở rộng triết lý và kinh nghiệm của bản hiến chương tới cộng đồng Phật đản và đưa “Thông điệp này vào trong một cái chai” nhằm thu thập các phản hồi mới từ hội thảo quan trọng này và hy vọng các nghiên cứu mới từ cộng đồng sẽ tham gia trong chương trình này. Bản hiến chương khẩn trương kêu gọi sự tham gia của các cộng đồng đa văn hoá, đa sắc tộc.

Năm 1999, Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đã chính thức thừa nhận ngày Phật đản là ngày tán dương Phật giáo quốc tế và sự đóng góp của Phật giáo đối với thế giới. Hiện nay, chúng ta cần thông qua các phương pháp và hướng dẫn mới cho công tác truyền thông đại chúng về tầm quan trọng của các di sản thế giới. Tiếp cận với di sản nghĩa là bảo lưu và truyền lại di sản cho đời sau.

Websites
http://www.ename974.org
http://www.enamecharter.org/
http://icip.icomos.or
g