![]() |
![]() |
|||
|
Điều trừu tượng của Hội Phật giáo Lượng tử Francois Lepine PHẦN GIỚI THIỆU Có một thời khi các quyền năng khoa học, chính trị, tôn giáo được những người giống nhau tổ chức. Họ hoạt động một chức năng đơn giản là giữ chân lý. Họ giữ nó chặt chẽ để không ai có thể đến và đánh cắp nó. Chính thời điểm mà những ý tưởng mới sinh khởi từ một bộ não sôi nổi trong tâm thức kỳ tài được châm ngòi lửa nối kết với cây cột. Từ cuộc thảo luận tới sự đối đầu, trận đấu bắt đầu ở nơi khoa học phải bác bỏ tâm linh như một tổng thể, để được phóng thích khỏi bàn tay của niềm tin giáo điều tôn giáo. Bây giờ khoa học đã chiến thắng từ trận đấu dữ dội này, bây giờ khoa học có thể nêu những câu hỏi mà nó không dám liều lĩnh ở thời điểm các câu hỏi về ý thức bị cấm đoán. Bạn không thể bắt tay với kẻ thù. Giờ khoa học cho phép để hỏi thuộc về triết học và tâm linh, một nhu cầu mới để một hình thức giáo lý thuộc về tâm linh có thể chấp nhận được bởi cộng đồng khoa học. Phật giáo Lượng Tử là một phương pháp tiếp cận như thế, nó khuyến khích sự thông thái và ý chí tự do, một phương pháp tiếp cận nhấn mạnh sự khám phá cá nhân trong ý thức thống nhất, để giờ chúng ta có thể đưa ra câu hỏi này: Ý thức là gì? Vâng, ý thức là gì? Và phần lớn các giải thích khoa học và tâm linh có thể tới gần để trở nên giống nhau, trong khi duy trì tất cả sự tự do giải thích của nó. CÁI NHÌN TỔNG QUÁT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN NHỮNG ĐIỂM CHÍNH Ngôn từ vô cảm nếu không kèm theo kinh nghiệm có ý thức. Một khi không giải thích ‘tuyết’ là gì cho một đứa trẻ sống ở sa mạc. Đứa trẻ này sẽ hiểu chỉ bằng cách chạm vào tuyết, bằng kinh nghiệm. Có một khả năng đạt được thực nghiệm tâm linh có ý thức trong lĩnh vực lượng tử thống nhất được khám phá trong vật lý lượng tử, để chúng ta có thể biết điều chúng ta đang nói về khi chúng ta trở lại phòng thí nghiệm. Thực thể tâm lý và vật lý bao hàm một vấn đề giống nhau. Trong khi monism trung tính chỉ cho rằng cả hai lĩnh vực vật lý và tâm lý được cấu thành từ thành phần trừu tượng giống nhau, một phương pháp tiếp cận Thiền Phật Giáo đưa ra khái niệm không có thể hiểu được non-monism, trong đó chúng ta tìm cách không mô tả sự hiểu biết của chúng ta về thực thể, để thực thể có thể dạy hay lộ tỏ cho chúng ta chân tánh của nó từ thực nghiệm trong một trang thái thiền định hay trầm tư. Sự cấu tạo thuộc về monistic này của mọi vật là điều mà khoa học gọi là Lĩnh Vực Lượng Tử Thống nhất, hay hình học thống nhất, như một khái niệm không có tính hình học, vô trí. Giáo lý, hành động trong quan sát và hiểu biết là những cách phổ biến của kiến thức thông thái, nhưng phương pháp này vẫn được thấm qua do kinh nghiệm theo điều kiện của chúng ta. Khắc sâu vào thực thể là trí tuệ thanh tịnh tối thượng, ý thức thống nhất. Mỗi quá trình Sinh học-Phân tử là cái nhìn cổ điển được quan sát trong thực nghiệm lượng tử sâu xa hơn thuộc bên trong. Chúng ta quen được liên kết với ý thức tối thượng nhiều hơn chúng ta ‘nghĩ’, chúng ta được tạo ra từ nó. Chúng ta liên tục liên hệ với nó. Chúng ta là nó. Ý thức khi chúng ta biết nó, hay là ý thức như một con người, là một chuỗi quan điểm được liên kết, từ cái ngã tối thượng quan sát nhân ngã, và nhân ngã quan sát, hay bỏ qua ngã tối thượng. Quan điểm dao động này xảy ra trong não hữu hình lẫn trong ngã không có thể giải thích được đã tạo ra và quản lý não. Ngã hiện hữu trong não cũng như mọi nơi khác nữa, nhưng hệ thống thần kinh là cửa ngỏ chính giữa nhân ngã bị giới hạn và ngã tối thượng. Ít nhất, điều này là như thế trong cái nhìn khoa học. Samadhi là một từ được dùng để mô tả trạng thái biết khi liên hệ tới nhận thức có điều kiện và cảm giác không được lưu ý tới điều gì. Như vậy kiến thức thông thái tại điểm này đến từ sự bộc lộ của kiến thức thanh tịnh bằng cách thực nghiệm đơn độc. Hành thiền hướng mục đích phát triển khả năng để giữ trí nhớ về thực nghiệm này đơn độc khi việc chứng thực con người đối với ngã bị giới hạn trở về trong phạm vi nhận biết của chúng ta. (Khi chúng ta trở về từ một trạng thái Thiền.) Từ viễn cảnh mới này, người ta có thể phát triển một phương pháp tiếp cận quân bình với nghiên cứu khoa học và sự quan sát từ quan điểm thật lẫn không thật, chuyển sự hiểu biết của chúng ta tạo thành cái được sáng tạo tới cái đang “sáng tạo”, hay biết ngã như một phần của đấng sáng tạo sự kiện không có sự phân lập khỏi thực thể hữu hình được sáng tạo. Nghiệp và sự thực nghiệm của nó là một. Hội Phật Giáo Lượng Tử đã được nghĩ ra và được thành lập vào đầu năm 2007 khi vài tu sĩ Phật giáo, trong đó có tôi, nhận ra rằng cuộc thảo luận do các bậc trưởng lão Phật giáo tổ chức và các bậc chân tu thiền định đã nói về sự thực nghiệm giống nhau như điều Vật Lý Lượng Tử đề cập tới, từ một quan điểm khác, việc sử dụng cuốn tự điển khác. Mọi vật đang được hợp nhất, chính là hiển nhiên mà phương pháp tiếp cận phối hợp được dâng tặng cho quần chúng để họ có thể tiếp cận những câu hỏi căn bản về cuộc sống từ phương pháp tiếp cận khoa học lẫn tâm linh cùng một lúc, trong một cách hợp nhất nguyên trạng. Đức Phật hướng dẫn chúng ta làm cho trí tuệ thích ứng với nền văn hóa mà chúng ta nói đến trong cuộc thảo luận. (Kinh Pháp Hoa, Quyển I, Phẩm Phương tiện.) Phật giáo Lượng Tử là một sự thích ứng như thế của Đạo Phật, có thể ích lợi cho xã hội hiện đại, nơi tìm kiếm chân lý được thực hiện qua sự quan sát khách quan trong phòng thí nghiệm. Chúng ta mong muốn truyền bá Pháp mà những người nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, là phòng thí nghiệm, tìm kiếm bên ngoài điều tự thân họ thấy ở bên trong. Các áp dụng hiện hành: Có vài áp dụng trong Phật Giáo Lượng Tử hiện hành trong nghiên cứu. Hạnh phúc: Một vài thiền giả Phật giáo có thể tự đặt mình trong trạng thái hỷ lạc có ý thức, nơi ý chí, mà không có việc chờ đợi nó lần nào nữa. Chúng ta hướng tới mục đích nghiên cứu hiện tượng sinh lý học và thần kinh liên quan tới thực nghiệm này để chúng ta hiểu nó tốt hơn. Một: Vật Lý Lượng Tử toán học đề nghị rằng chỉ có một thức thống nhất. Dẫu sao duy thức toán học đã quan sát, được phân lập ý thức, được giới hạn trong thân thể. Những người theo Phật giáo Lượng tử huấn luyện về việc tăng trưởng sự nhận biết về ngã của họ vượt lên trên thân thể vật lý, trong khi giữ mức độ đầy đủ về sự nhận biết vật lý, vượt lên trên thân thể, cung cấp chứng cứ hiển nhiên trong thức. Sức sống: Trong khoa học cổ điển, Cuộc sống là một hoạt động được quan sát trong các cơ thể sinh lý học giới hạn và cô lập. Nếu sức sống có thể được vận chuyển từ một đơn vị sinh lý học (thân thể) tới một nơi khác, mà không có bất kỳ hợp tác vật lý, cơ học hay, lúc đó hóa học, lúc đó Cuộc sống không phải là một sự hoạt động nữa, mà là một thực thể truyền đến khắp vũ trụ. |
||||
![]() |
||||